Bài viết này cung cấp cái nhìn tổng quan về thực trạng và quy định pháp lý liên quan đến hợp đồng đào tạo theo học phần. Nó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tuân thủ các quy định trong Luật Giáo dục Nghề nghiệp 2014, như yêu cầu về nội dung hợp đồng, học phí, và các điều kiện thay đổi học phần. Bài viết cũng giải đáp các thắc mắc phổ biến từ học viên và cơ sở đào tạo, nhằm đảm bảo hợp đồng được thực hiện minh bạch, hiệu quả, và bảo vệ quyền lợi cho các bên liên quan.
Trong bối cảnh giáo dục hiện đại, việc các trường, trung tâm triển khai các chương trình đào tạo theo học phần ngày càng trở nên phổ biến. Đào tạo theo học phần hiện tại cũng được xem là hoạt động phổ biến và xu hướng do tốc độ xã hội ngày càng phát triển kéo theo yêu cầu của những nhà tuyển dụng mong muốn ứng viên có trình độ chuyên môn cao. Việc đào tạo theo học phần được thông qua các hợp đồng đào tạo theo học phần. Tuy nhiên, thực tế cho thấy có nhiều vấn đề và bất cập liên quan đến việc thực hiện hợp đồng này.
Để đảm bảo tính hợp pháp và hiệu quả, hợp đồng đào tạo theo học phần cần tuân thủ các quy định của pháp luật.
Căn cứ theo khoản 2 Điều 3 Luật Giáo Dục Nghề Nghiệp 2014 thì Đào tạo được hiểu là hoạt động giảng dạy và nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tìm được việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp.
Học phần là một khối lượng kiến thức tương đối hoàn chỉnh và thuận tiện cho việc tích lũy của người học trong quá trình học tập tại các cơ sở đào tạo. Thông thường, mỗi học phần bao gồm từ 2 đến 4 tín chỉ, với nội dung giảng dạy được sắp xếp trọn vẹn và trải đều trong một học kỳ. Kiến thức trong từng học phần gắn với một trình độ cụ thể theo năm học và có thể được thiết kế như một phần của môn học hoặc dưới dạng tổ hợp của nhiều môn học. Mỗi học phần được xác định bằng một mã số riêng do trường quy định.
Từ đó ta có khái niệm Đào tạo theo học phần :
Căn cứ khoản 2 Điều 39 Luật Giáo Dục Nghề Nghiệp 2014 thì nội dung của hợp đồng đào tạo theo học phần sẽ có những nội dung cơ bản sau:
a) Tên nghề đào tạo hoặc các kỹ năng nghề đạt được;
b) Địa điểm đào tạo;
c) Thời gian hoàn thành khóa học;
d) Mức học phí và phương thức thanh toán học phí;
đ) Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của mỗi bên khi vi phạm hợp đồng;
e) Thanh lý hợp đồng;
g) Các thỏa thuận khác không trái pháp luật và đạo đức xã hội.
Hợp đồng đồng đào tạo học phần sẽ có hiệu lực từ điểm hai bên thỏa thuận. Bên cạnh đó hợp đồng học phần cần phải đáp ứng được một số điều kiện đã được quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015 cụ thể :
a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;
b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
2. Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.
Quy định cụ thể tại Điều 122 Bộ luật dân sự 2015. Nếu hợp đồng học phần này không đáp ứng đúng điều kiện có hiệu lực của một giao dịch dân sự thì hợp đồng đào tạo học phần bị vô hiệu ( một phần hoặc toàn bộ ).
Trong quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng đào tạo theo học phần, có rất nhiều thắc mắc từ phía học viên và cơ sở đào tạo.
Học phí là một trong những căn cứ thể hiện rằng bạn có đủ khả năng để tham gia đào tạo tại trung tâm, trường học. Bên cạnh đó việc có thỏa thuận học phí giúp tránh tranh chấp về tài chính trong quá trình thực hiện hợp đồng
Căn cứ Căn cứ khoản 2 Điều 39 Luật Giáo Dục Nghề Nghiệp 2014, nội dung bắt buộc phải có trong một hợp đồng học phần là thỏa thuận học phí. Vậy thỏa thuận học phí là phần bắt buộc phải có trong hợp đồng đào tạo theo học phần.
Khoản 2 Điều 39 Luật Giáo Dục Nghề Nghiệp 2014 đã nhấn mạnh rằng hợp đồng đào tạo phải có nội dung thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ của các bên, bao gồm quy định về việc thay đổi chương trình, học phần nếu cần thiết.
Vì vậy, nếu hợp đồng có thỏa thuận cụ thể về khả năng thay đổi học phần, thì người học và cơ sở đào tạo có thể thực hiện việc thay đổi dựa trên sự đồng thuận của cả hai bên ngay thời điểm ký kết.
Việc ký kết hợp đồng học phần là một thủ tục quan trọng giữa cơ sở giảng dạy và học viên nhằm bảo vệ quyền và nghĩa vụ của các bên. Tuy nhiên, việc người đứng đầu cơ sở giảng dạy có bắt buộc phải trực tiếp ký hợp đồng đào tạo với học viên không còn tùy thuộc vào quy định cụ thể của từng cơ sở và pháp luật về giáo dục nghề nghiệp.
Không có điều khoản bắt buộc người đứng đầu cơ sở giáo dục phải là người trực tiếp ký kết hợp đồng, nhưng hợp đồng này cần có chữ ký của người có thẩm quyền đại diện cho cơ sở giảng dạy. Vậy nên tại cơ sở này có thể uỷ quyền cho một bên khác ký kết theo tổ chức nội bộ của cơ sở giảng dạy.
Như vậy, người đứng đầu cơ sở giảng dạy không bắt buộc phải trực tiếp ký hợp đồng, nhưng hợp đồng đào tạo vẫn phải được ký bởi người có thẩm quyền đại diện cho cơ sở đó.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi về Hợp đồng học phần. Nếu có bất kỳ thắc mắc nào, xin vui lòng với liên hệ ngay với NPLaw. Là một đơn vị hoạt động chuyên nghiệp trong các lĩnh vực tư vấn doanh nghiệp, thương mại, đầu tư, sở hữu trí tuệ, giấy phép, giải quyết tranh chấp, hình sự, môi trường, NPLaw tự tin có thể giải đáp và hỗ trợ mọi vướng mắc của bạn kịp thời và hiệu quả.
CÔNG TY LUẬT TNHH NGỌC PHÚ
Tổng đài tư vấn và CSKH: 1900 9343
Hotline: 0913 41 99 96
Email: legal@nplaw.vn