Sau khi ly hôn, các bên có thể thỏa thuận người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con để giành lại quyền nuôi con nếu chứng minh được bên kia vi phạm các nghĩa vụ nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định của pháp luật. Vậy pháp luật có quy định như thế nào về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con? Cùng tham khảo bài viết dưới đây của NPLaw để hiểu thêm về vấn đề này.
I. Thực trạng về thay đổi người trực tiếp nuôi con hiện nay
Hiện nay, tỷ lệ ly hôn trong xã hội ngày càng tăng. Xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn tới tình trạng ly hôn. Phần lớn sau các cuộc đổ vỡ hôn nhân, con cái sẽ thiếu đi sự chăm sóc, giáo dục từ người cha hoặc mẹ chỉ cần khuyết đi một nửa đều và ảnh hưởng rất lớn đến tương lai của con cái.

Thực tế, rất nhiều vụ án vụ án tranh chấp nuôi con đã xảy ra. Nhiều trường hợp cả cha và mẹ đều có đủ điều kiện để có thể chăm sóc tốt cho trẻ cả về vật chất lẫn tinh thần. Các bên xảy ra tranh chấp quyết liệt và đều cố gắng chứng minh mình có điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con tốt hơn đối phương. Cũng có những trường hợp cả bố và mẹ đều khó khăn, đều bận đi làm ăn, kiếm sống quanh năm, suốt tháng nên phải giao con cha ông bà nội, ngoại trông coi. Việc xác định ai có điều kiện trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con tốt hơn ai cũng là vấn đề phức tạp. Đối với những trường hợp các cháu đã đủ tuổi để nêu ý kiến chọn sống với cha hay với mẹ cũng không hề đơn giản để có kết quả chính xác, không gây tổn thương cho trẻ. Nhiều trường hợp cha, mẹ, ông bà đang trực tiếp trông nom các cháu gây áp lực tinh thần hoặc đưa ra những thông tin không chính xác, hướng các cháu phải khai theo ý người lớn.
Dưới đây, NPLaw sẽ cung cấp đến bạn một số thông tin liên quan về vấn đề thay đổi người trực tiếp nuôi con.
II. Tìm hiểu về thay đổi người trực tiếp nuôi con
1. Thay đổi người trực tiếp nuôi con được hiểu như thế nào?
Khi ly hôn, con chưa thành niên được giao cho một trong hai bên vợ chồng nuôi. Vợ, chồng có thể thỏa thuận về việc nuôi con thì Tòa án nhân dân có thẩm quyền công nhận sự thỏa thuận đó, hoặc trường hợp vợ chồng không thỏa thuận được thì Tòa án sẽ căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con để giao con cho người bố hoặc người mẹ trực tiếp nuôi dưỡng. Tuy nhiên, trong quá trình nuôi dưỡng nếu người trực tiếp nuôi con không đảm bảo cuộc sống cho con về vật chất và tinh thần thì người trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng con sẽ bị thay đổi. Khi có căn cứ thì người có quyền có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn.
2. Vì sao phải thay đổi người trực tiếp nuôi con
Trên cơ sở lợi ích của trẻ, khi có đơn yêu cầu và xét thấy có một trong các căn cứ quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình thì Tòa án sẽ xem xét, quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con. Theo quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình, việc thay đổi quyền nuôi con sau khi ly hôn có thể là vụ án tranh chấp nếu cha, mẹ không thỏa thuận được hoặc do người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện dẫn đến người còn lại hoặc cá nhân, tổ chức khác phải khởi kiện để thay đổi người nuôi con.
Để đảm bảo lợi ích của con, khi nhận thấy người đang trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bên còn lại có thể yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con. Tuy nhiên, nếu con đủ từ 07 tuổi trở lên thì việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn phải xem xét đến nguyện vọng của con.
III. Điều kiện để thay đổi người trực tiếp nuôi con
Theo Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn như sau:
- Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều này, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:
Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;
Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.
- Trong trường hợp xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự.
IV. Quy định của pháp luật về thay đổi người trực tiếp nuôi con
1. Hồ sơ yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con
Hồ sơ xin thay đổi người trực tiếp nuôi con cần chuẩn bị:
- Đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn;
- Bản án/Quyết định giải quyết ly hôn của Tòa án;
- Chứng minh nhân dân/Căn cước công dân/Hộ chiếu còn hạn/Sổ hộ khẩu;
- Giấy khai sinh của con (bản sao có chứng thực);
- Các tài liệu chứng minh cho yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Người muốn thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn phải gửi hồ sơ tới Tòa án nhân dân quận/ huyện nơi bị đơn cư trú, làm việc để được giải quyết.
2. Trình tự thay đổi người trực tiếp nuôi con
Căn cứ tại khoản 2 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định: Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
Trường hợp, vợ chồng thỏa thuận được với nhau về người trực tiếp nuôi con thì có thể yêu cầu Tòa nơi một trong các bên cư trú công nhận thỏa thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn để giành lại việc trực tiếp nuôi con. Trong trường hợp không thỏa thuận được thì phải khởi kiện tại Tòa án và phải có căn cứ cho việc thay đổi người trực tiếp nuôi con. Khi con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

Căn cứ khoản 1 và khoản 2 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết việc tranh chấp hoặc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Đồng thời, điểm i khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: Tòa án nơi một trong các bên thỏa thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận sự thỏa thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
V. Giải đáp một số câu hỏi liên quan đến thay đổi người trực tiếp nuôi con
1. Có được ủy quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con không?
Hiện nay pháp luật ở Việt Nam chưa có định nghĩa cụ thể về ủy quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con. Ủy quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con có thể hiểu là việc cha mẹ giao giao quyền nuôi dưỡng và chăm sóc con cái mình uỷ quyền cho người khác thực hiện. Điều này không làm mất đi quyền làm cha, làm mẹ vốn có đối với đứa trẻ.
Theo Điều 71 Luật Hôn nhân và Gia đình, việc nuôi con là quyền, nghĩa vụ của cha mẹ. Cả cha và mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng:
Con chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự.
Con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động cũng không có tài sản để tự nuôi bản thân mình.
Có thể thấy, nuôi con vừa là quyền vừa là trách nhiệm, gắn với bản thân cha và mẹ. Tuy nhiên, việc ủy quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con được hiểu là sự thỏa thuận giữa cha và mẹ (bên ủy quyền) với người khác (bên được ủy quyền) theo đó:
Quyền ủy quyền: người có quyền ủy quyền là cha, mẹ hoặc người có quyền nuôi con theo quy định của pháp luật. Quyền ủy quyền có thể được thực hiện theo thỏa thuận giữa các bên hoặc do quyết định của cơ quan tư pháp.
Quyền được ủy quyền: người được ủy quyền là người được chỉ định bởi người có quyền ủy quyền để chăm sóc nuôi dưỡng và đảm bảo quyền lợi của con cái.
Phạm vi ủy quyền: ủy quyền nuôi con có thể áp dụng cho toàn bộ hoặc một phần thời gian nuôi dưỡng và chăm sóc con cái, thời gian và phạm vi ủy quyền được thỏa thuận hoặc quyết định bởi cơ quan tư pháp.
Hiệu lực của ủy quyền: quyết định ủy quyền phải được thực hiện bằng văn bản và có giá trị pháp lý. Nếu có sự thay đổi hoặc chấm dứt quyền ủy quyền phải có văn bản mới để thay thế hoặc hủy bỏ quyết định trước đó.
Như vậy, trong một số trường hợp, cha, mẹ có thể ủy quyền cho người khác quyền trực tiếp nuôi con.
2. Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con?
Theo quy định tại điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì tranh chấp hoặc yêu cầu về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện.
Tại khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ thì thẩm quyền giải quyết vụ án về thay đổi người trực tiếp nuôi con của Tòa án theo lãnh thổ được xác định:
Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;
Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;
Tòa án nơi một trong các bên thỏa thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận sự thỏa thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
Như vậy nếu việc thay đổi người trực tiếp nuôi con theo sự thỏa thuận của cha mẹ thì thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân nơi một trong hai bên cư trú, làm việc. Trường hợp thay đổi người trực tiếp nuôi con không theo sự thỏa thuận của cha mẹ thì thẩm quyền giải quyết thuộc về Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc.
3. Ai được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con?
Căn cứ vào Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì trường hợp vợ chồng không có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con nhưng có căn cứ cho rằng người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp nuôi dưỡng con thì những đối tượng sau đây được yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con:
- Người thân thích;
- Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;
- Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;
- Hội liên hiệp phụ nữ.
Theo khoản 19 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì Người thân thích là người có quan hệ hôn nhân, nuôi dưỡng, người có cùng dòng máu về trực hệ và người có họ trong phạm vi ba đời. Theo đó người thân thích gồm ông, bà, chú, dì, cậu, mợ…
Theo quy định tại Điều 3 Nghị định 02/2013/NĐ-CP, Các khoản 11, khoản 12 Điều 8 của Nghị định 24/2014/NĐ-CP được sửa đổi bởi khoản 8, Điều 1, Nghị định 107/2020/NĐ-CP và các khoản 5, khoản 6 Điều 7 Nghị định 37/2014/NĐ-CP được sửa đổi bởi khoản 5, khoản 6, Điều 1, Nghị định 108/2020/NĐ-CP thì Cơ quan quản lý Nhà nước về gia đình, trẻ em gồm có: Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh; Sở Lao động, Thương binh và Xã hội; Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch…
Như vậy, khi có căn cứ thì các chủ thể nêu trên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.
4. Mẹ có quyền yêu cầu tòa án thay đổi bố trực tiếp nuôi con sau ly hôn không?
Căn cứ khoản 1 và khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định, cụ thể như sau:
- Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều này, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Trong trường hợp có căn cứ cho rằng người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp nuôi dưỡng con thì trên cơ sở lợi ích của con, cá nhân, cơ quan, tổ chức sau có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con:
Người thân thích;
Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;
Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;
Hội liên hiệp phụ nữ.
Theo đó, mẹ có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi bố trực tiếp nuôi con sau ly hôn thì Tòa án có thể xem xét và quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn.
5. Thời gian giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con là bao lâu?
Theo khoản 3 Điều 28 và khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định thời hạn chuẩn bị xét xử tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con là 04 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án.
Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 02 tháng.
Như vậy, pháp luật quy định tổng thời hạn chuẩn bị xét xử có thể lên đến 6 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án.