Văn phòng đại diện của doanh nghiệp quảng cáo nước ngoài là một cơ sở quan trọng, chuyên nghiệp và đa dạng về ngôn ngữ và văn hóa, nhằm thúc đẩy việc quảng cáo và tiếp thị sản phẩm hoặc dịch vụ của họ trên thị trường Việt Nam và tạo cầu nối hiệu quả giữa hai thế giới kinh doanh khác nhau. Bài viết dưới đây sẽ giới thiệu về chủ đề này.
Hiện nay chúng ta không thể không khẳng định được tầm quan trọng của văn phòng đại diện của doanh nghiệp quảng cáo nước ngoài, cụ thể như sau:
Quy định pháp luật liên quan đến văn phòng đại diện của doanh nghiệp quảng cáo nước ngoài như sau:
Văn phòng đại diện của doanh nghiệp quảng cáo nước ngoài là một đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp quảng cáo nước ngoài được thành lập tại Việt Nam để thực hiện các hoạt động xúc tiến quảng cáo, không được trực tiếp kinh doanh dịch vụ quảng cáo.
Hồ sơ thành lập văn phòng đại diện của doanh nghiệp quảng cáo nước ngoài
Theo khoản 1 Điều 20 Nghị định 181/2013/NĐ-CP quy định về hồ sơ cấp Giấy phép thành lập Văn phòng đại diện của doanh nghiệp quảng cáo nước ngoài tại Việt Nam như sau:
- Đơn đề nghị cấp Giấy phép thành lập Văn phòng đại diện do người đại diện có thẩm quyền của doanh nghiệp quảng cáo nước ngoài ký theo mẫu do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định;
- Bản sao giấy đăng ký kinh doanh hoặc các giấy tờ có giá trị tương đương của doanh nghiệp nước ngoài được cơ quan có thẩm quyền nơi doanh nghiệp thành lập hoặc đăng ký kinh doanh xác nhận;
- Báo cáo tài chính có kiểm toán hoặc các tài liệu khác có giá trị tương đương chứng minh được sự tồn tại và hoạt động của doanh nghiệp quảng cáo nước ngoài trong năm tài chính gần nhất;
- Các giấy tờ quy định tại mục trên phải dịch ra tiếng Việt và được cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài chứng thực và thực hiện việc hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Thủ tục đề nghị thành lập văn phòng đại diện của doanh nghiệp quảng cáo nước ngoài
Thủ tục cấp Giấy phép thành lập Văn phòng đại diện của doanh nghiệp quảng cáo nước ngoài tại Việt Nam theo khoản 2 Điều 20 Nghị định 181/2013/NĐ-CP (sửa đổi tại Nghị định 11/2019/NĐ-CP) như sau:
- Doanh nghiệp quảng cáo nước ngoài nộp trực tiếp hoặc qua đường bưu điện 01 bộ hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép thành lập Văn phòng đại diện đến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi đặt Văn phòng đại diện;
- Trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, cấp Giấy phép thành lập Văn phòng đại diện và gửi bản sao giấy phép đó đến Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch;
- Trường hợp hồ sơ chưa hợp lệ, trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh gửi văn bản yêu cầu doanh nghiệp quảng cáo nước ngoài bổ sung, hoàn chỉnh hồ sơ;
- Trong thời hạn 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày được cấp Giấy phép, Văn phòng đại diện phải hoạt động và có văn bản thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về thời điểm bắt đầu hoạt động, địa điểm đặt trụ sở, số người Việt Nam, số người nước ngoài làm việc tại Văn phòng đại diện, nội dung hoạt động của Văn phòng đại diện.
Theo khoản 2 Điều 20 Nghị định 181/2013/NĐ-CP (sửa đổi tại Nghị định 11/2019/NĐ-CP) thì trong thời hạn 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày được cấp Giấy phép, Văn phòng đại diện phải hoạt động và có văn bản thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về thời điểm bắt đầu hoạt động, địa điểm đặt trụ sở, số người Việt Nam, số người nước ngoài làm việc tại Văn phòng đại diện, nội dung hoạt động của Văn phòng đại diện.
Như vậy, Uỷ ban nhân dân cấp Tỉnh là người có thẩm quyền thành lập văn phòng đại diện của doanh nghiệp quảng cáo nước ngoài
Căn cứ khoản 2 Điều 103 Luật Thương mại 2005 quy định:
- Văn phòng đại diện của thương nhân không được trực tiếp thực hiện hoạt động quảng cáo thương mại. Trong trường hợp được thương nhân ủy quyền, Văn phòng đại diện có quyền ký hợp đồng với thương nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo thương mại để thực hiện quảng cáo cho thương nhân mà mình đại diện.
Như vậy, văn phòng đại diện của doanh nghiệp quảng cáo nước ngoài tại Việt Nam không được trực tiếp kinh doanh quảng cáo.
Căn cứ khoản 1 Điều 24 Nghị định 181/2013/NĐ-CP quy định về thu hồi Giấy phép thành lập Văn phòng đại diện; Văn phòng đại diện chấm dứt hoạt động như sau:
- Hoạt động sai mục đích hoặc không đúng với nội dung quy định trong Giấy phép;
- Tiến hành hoạt động kinh doanh dịch vụ quảng cáo;
- Không báo cáo định kỳ về hoạt động của Văn phòng đại diện trong 2 năm liên tiếp;
- Không hoạt động trong thời gian 6 tháng, kể từ ngày được cấp Giấy phép thành lập Văn phòng đại diện;
- Không gửi báo cáo theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong thời hạn 6 tháng, kể từ ngày có yêu cầu bằng văn bản.
Căn cứ khoản 2 Điều 4 Thông tư 165/2016/TT-BTC quy định về mức thu lệ phí như sau:
- Lệ phí cấp Giấy phép thành lập Văn phòng đại diện của doanh nghiệp quảng cáo nước ngoài tại Việt Nam thu bằng Đồng Việt Nam.
Như vậy, theo quy định, lệ phí cấp Giấy phép thành lập Văn phòng đại diện của doanh nghiệp quảng cáo nước ngoài tại Việt Nam thu bằng Đồng Việt Nam.
Theo quy định tại Điều 103 Luật Thương mại 2005 về quyền quảng cáo thương mại cụ thể như sau:
- Thương nhân Việt Nam, Chi nhánh của thương nhân Việt Nam, Chi nhánh của thương nhân nước ngoài được phép hoạt động thương mại tại Việt Nam có quyền quảng cáo về hoạt động kinh doanh hàng hoá, dịch vụ của mình hoặc thuê thương nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo thực hiện việc quảng cáo thương mại cho mình.
- Văn phòng đại diện của thương nhân không được trực tiếp thực hiện hoạt động quảng cáo thương mại. Trong trường hợp được thương nhân ủy quyền, Văn phòng đại diện có quyền ký hợp đồng với thương nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo thương mại để thực hiện quảng cáo cho thương nhân mà mình đại diện.
- Thương nhân nước ngoài muốn quảng cáo thương mại về hoạt động kinh doanh hàng hoá, dịch vụ của mình tại Việt Nam phải thuê thương nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo thương mại Việt Nam thực hiện.
Từ những căn cứ pháp lý được đưa ra cụ thể phía trên thì văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài hoạt động tại Việt Nam không được phép trực tiếp thực hiện quảng cáo thương mại theo khoản 2 Điều 103 Luật Thương mại 2005. Do đó văn phòng đại diện mà bạn đang làm việc không thể trực tiếp thực hiện quảng cáo thương mại.
Tuy nhiên, trong trường hợp được thương nhân ủy quyền, văn phòng đại diện của bạn có quyền ký hợp đồng với thương nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo thương mại để thực hiện quảng cáo thương mại cho thương nhân mà mình đại diện (theo khoản 2 Điều 103 Luật Thương mại 2005).
Trên đây là những thông tin xoay quanh đề tài văn phòng đại diện của doanh nghiệp quảng cáo nước ngoài. Để có thể được hỗ trợ cũng như tìm hiểu thông tin, quy định của pháp luật về văn phòng đại diện của doanh nghiệp quảng cáo nước ngoài, Quý khách có thể liên hệ NPLaw để được tư vấn bởi đội ngũ luật sư, chuyên viên pháp lý dày dặn kinh nghiệm.
Công ty Luật TNHH Ngọc Phú - Hãng luật NPLaw
CÔNG TY LUẬT TNHH NGỌC PHÚ
Tổng đài tư vấn và CSKH: 1900 9343
Hotline: 0913 41 99 96
Email: legal@nplaw.vn