Cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế - xã hội kéo theo đó là các hệ lụy về tình trạng suy thoái, cạn kiệt tài nguyên môi trường đang diễn ra ở mức báo động, trong số đó xuất hiện các xung đột, tranh chấp về tài nguyên nước. Xung đột về nước không chỉ xuất phát từ vấn đề khan hiếm nước mà còn xuất phát từ việc quản lý và quyền sử dụng nguồn nước đó. Trong phạm vi bài viết dưới đây, mời quý độc giả cùng NPLaw tìm hiểu về tranh chấp tài nguyên nước và quy định của Việt Nam xoay quanh vấn đề giải quyết tranh chấp tài nguyên nước theo quy định của Luật Tài nguyên nước năm 2012. Hy vọng những thông tin mà NPLaw sắp cung cấp sẽ mang lại cho quý độc giả một cái nhìn tổng quan về vấn đề tranh chấp nguồn nước từ đó giúp quý độc giả có thể bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của chính mình.

I. Thực trạng tranh chấp tài nguyên nước hiện nay
Theo thống kê năm 2019 của Viện Nghiên cứu Thái Bình Dương - Hoa Kỳ, các vụ xung đột liên quan đến nước trên thế giới đã tăng gấp đôi trong vòng 10 năm qua mà Châu Á lại chính là nơi có số lượng và tốc độ gia tăng xung đột về nước cao nhất trong thời gian gần đây.
Tại Việt Nam, tranh chấp tài nguyên nước đã diễn ra từ lâu và nạn hạn hán khiến cho tình trạng tranh chấp ngày càng nghiêm trọng. Theo một công bố về xung đột nước ở Nghệ An năm 2010 của Học viện Nông nghiệp Việt Nam thì “hầu hết xung đột nước diễn ra trong một cộng đồng đơn lẻ, hoặc ở quy mô địa phương và giữa những người có cùng mục đích sử dụng nước. Xung đột giữa các bên sử dụng nước với các mục đích khác nhau ít xảy ra hơn và chủ yếu là do ô nhiễm nước chứ không phải do thiếu nước”. Tuy nhiên, với sự phát triển của kinh tế xã hội mà nguồn tài các nguồn tài nguyên hiện nay lại đang dần cạn kiệt làm cho các tranh chấp về nước xuất hiện hầu như trên khắp nước ta từ miền núi đến các đồng bằng với diễn biến vô cùng phức tạp, có nơi còn dẫn đến xô xát, bạo lực.
Bên cạnh đó, nước ta là một trong những quốc gia nằm ở hạ nguồn các dòng sông lớn như sông Mekong nên sẽ không tránh khỏi các xung đột, tranh chấp về nước diễn ra ở quy mô xuyên biên giới. Điển hình như việc xây dựng càng nhiều các đập thủy điện trên sông Mekong thì mâu thuẫn giữa các quốc gia thượng nguồn và quốc gia hạ nguồn sông sẽ ngày càng lớn, việc chặn dòng nước sẽ gây ảnh hưởng cho các quốc gia ở hạ nguồn trong mùa hạn.
Có thể thấy, tình trạng tranh chấp tài nguyên nước trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đang diễn ra vô cùng phức tạp.
II. Tìm hiểu về tranh chấp tài nguyên nước
Nước là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là yếu tố không thể thiếu cho hoạt động sống của con người và các sinh vật, nước duy trì sự ổn định của hệ sinh thái. Bên cạnh đó, nước là nguồn tài nguyên thiết yếu cho sự phát triển của một quốc gia nói riêng và nền kinh tế thế giới nói chung.
1. Tài nguyên nước là gì?
Tài nguyên nước là toàn bộ lượng nước có trên Trái Đất mà con người có thể sử dụng được tùy thuộc vào các mục đích khác nhau như trong sinh hoạt, phát triển nông nghiệp, công nghiệp, môi trường,… Bên cạnh đó, nước còn là một nguồn năng lượng tiềm năng mà qua đó con người có thể khai thác nhằm phục vụ nhu cầu của mình cũng như trong sản xuất. Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật Tài nguyên nước năm 2012, tài nguyên nước bao gồm nguồn nước mặt, nước dưới đất, nước mưa và nước biển thuộc lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Có thể thấy, tài nguyên nước là yếu tố tự nhiên gắn liền với sự tồn tại và phát triển của mọi sự sống trên Trái Đất.
2. Nguyên nhân dẫn đến tranh chấp tài nguyên nước
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tranh chấp tài nguyên nước, có thể đến một số nguyên nhân chủ yếu như sau:
- Với sự gia tăng nhanh chóng của dân số thế giới mà nguồn tài nguyên nước lại đang bị ảnh hưởng do biến đổi khí hậu làm cho các xung đột, tranh chấp tài nguyên nước ngày càng phổ biến, đặc biệt là với những quốc gia khan hiếm nước.
- Nước chiếm 70% diện tích bề mặt Trái Đất nhưng trong đó chỉ khoảng 3% lượng nước con người có thể sử dụng được. Việc khan hiếm nước là nguyên nhân gây ra nhiều xung đột về nước.
- Các quốc gia tranh chấp về quyền sở hữu, khai thác đối với các nguồn nước xuyên biên giới như sông, suối, tầng nước ngầm.

- Nước cũng là một công cụ trong chiến tranh, là nơi diễn ra các cuộc tập trận, xung đột quân sự diễn ra trên biển.
- Những quốc gia ở thượng nguồn sông lớn ngăn đập để khai thác vì mục đích riêng làm ảnh hưởng đến các quốc gia nằm ở hạ nguồn.
- Tại mỗi quốc gia, sự phân bố không đều của nguồn nước cùng với nạn hạn hán cũng là nguyên nhân dẫn đến tranh chấp nước.
Tóm lại, tranh chấp tài nguyên nước đều có chung bắt nguồn từ lợi ích của các chủ thể.
III. Quy định pháp luật về tranh chấp tài nguyên nước
Trong phạm vi bài viết này, chúng ta sẽ tìm hiểu tranh chấp tài nguyên nước và giải quyết tranh chấp tài nguyên nước theo quy định của Luật Tài nguyên nước năm 2012.
1. Cơ sở pháp lý
Tại Việt Nam các quy định về tài nguyên nước được quy định tại Luật Tài nguyên nước năm 2012. Hiện nay, Luật Tài nguyên nước năm 2012 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của 37 Luật có liên quan đến quy hoạch 2018; Thông tư 17/2021/TT-BTNMT; Nghị định 02/2023/NĐ-CP. Ngoài ra, các vấn đề liên quan đến tài nguyên nước còn được quy định trong các luật liên quan như Luật Bảo vệ môi trường, Bộ luật Dân sự,..
2. Hồ sơ giải quyết tranh chấp tài nguyên nước
Tùy thuộc vào nội dung của từng vụ tranh chấp và cách thức lựa chọn để giải quyết tranh chấp mà hồ sơ giải quyết tranh chấp tài nguyên nước đòi hỏi những loại giấy tờ nhất định, nhưng thông thường sẽ bao gồm các loại giấy tờ sau:
- Đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp;
- Giấy tờ chứng thực cá nhân của người khởi kiện, Giấy phép về tài nguyên nước;
- Biên bản hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã;
- Biên bản làm việc với các bên tranh chấp và người có liên quan;
- Quyết định giải quyết tranh chấp;
- Đơn khởi kiện,...
3. Trình tự và thủ tục giải quyết tranh chấp tài nguyên nước
Căn cứ theo Điều 76 Luật Tài nguyên nước năm 2012, trình tự giải quyết tranh chấp về tài nguyên nước được quy định như sau:
- Hòa giải tranh chấp về tài nguyên nước được thực hiện như sau:
- Nhà nước khuyến khích các bên tự hòa giải các tranh chấp về tài nguyên nước;
- Nhà nước khuyến khích giải quyết tranh chấp về tài nguyên nước giữa cá nhân, hộ gia đình với nhau thông qua hòa giải tại cơ sở theo quy định về hòa giải ở cơ sở;
- Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức hòa giải tranh chấp về tài nguyên nước trên địa bàn khi các bên tranh chấp đề nghị.
- Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm giải quyết các tranh chấp về: khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước thuộc trường hợp không phải xin cấp giấy phép.
Trường hợp không đồng ý với quyết định giải quyết tranh chấp thì các bên tranh chấp có quyền khiếu nại đến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án.

- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm sau đây:
- Giải quyết tranh chấp phát sinh trong việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước đối với các trường hợp thuộc thẩm quyền cấp giấy phép của mình. Trường hợp không đồng ý với quyết định giải quyết tranh chấp thì các bên tranh chấp có quyền khởi kiện tại Tòa án;
- Giải quyết tranh chấp về tài nguyên nước giữa Ủy ban nhân dân cấp huyện với nhau;
- Giải quyết tranh chấp đã có quyết định giải quyết của Ủy ban nhân dân cấp huyện nhưng các bên tranh chấp không đồng ý.
- Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm sau đây:
+ Giải quyết tranh chấp phát sinh trong việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước đối với các trường hợp thuộc thẩm quyền cấp giấy phép của mình. Giải quyết tranh chấp khác về tài nguyên nước giữa các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
+ Trường hợp không đồng ý với quyết định giải quyết tranh chấp của Bộ Tài nguyên và Môi trường thì có quyền khởi kiện tại Tòa án;
- Đối với yêu cầu về bồi thường thiệt hại liên quan đến giải quyết tranh chấp về tài nguyên nước được thực hiện theo quy định của pháp luật dân sự và pháp luật về trách nhiệm bồi thường của nhà nước.
Như vậy, khi có xảy ra tranh chấp tài nguyên nước, các bên tranh chấp có thể lựa chọn giải quyết bằng cách hòa giải hoặc khởi kiện tại Tòa án.
IV. Giải đáp một số câu hỏi liên quan đến tranh chấp tài nguyên nước
Để hiểu rõ hơn về tranh chấp tài nguyên nước, sau đây mời quý độc giả cùng NPLaw giải đáp một số câu hỏi liên quan đến vấn đề giải quyết tranh chấp tài nguyên nước.
1. Trách nhiệm quản lý tài nguyên nước thuộc về cơ quan nào?
Theo quy định tại Điều 70 Luật Tài nguyên nước 2012, Chính phủ sẽ thống nhất quản lý nhà nước về tài nguyên nước. Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về tài nguyên nước, quản lý lưu vực sông trong phạm vi cả nước. Bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình sẽ có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Bên cạnh đó, căn cứ theo Điều 71 Luật Tài nguyên nước 2012 thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm: ban hành theo thẩm quyền và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về tài nguyên nước; lập, phê duyệt, công bố và tổ chức thực hiện quy hoạch tài nguyên nước; khoanh định, công bố vùng cấm, vùng hạn chế khai thác nước dưới đất; tổ chức ứng phó, khắc phục sự cố ô nhiễm nguồn nước; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về tài nguyên nước; thanh tra, kiểm tra, giải quyết tranh chấp, xử lý vi phạm pháp luật về tài nguyên nước,...
Ngoài ra, Ủy ban nhân dân cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp xã trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm trong một số hoạt động quản lý tài nguyên nước và thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước về tài nguyên nước theo phân cấp hoặc uỷ quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Như vậy, Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường, các bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân các cấp chính là các cơ quan có trách nhiệm quản lý nhà nước về tài nguyên nước.
2. Ai có thẩm quyền giải quyết tranh chấp tài nguyên nước?
Căn cứ theo quy định tại khoản 2, 3 và 4 Điều 76 Luật Tài nguyên nước 2012 quy định về trách nhiệm giải quyết tranh chấp của các chủ thể như sau: Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm giải quyết tranh chấp về khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước thuộc trường hợp không phải xin cấp giấy phép; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm giải quyết tranh chấp phát sinh trong việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải đối với các trường hợp thuộc thẩm quyền cấp giấy phép của mình, giải quyết tranh chấp về tài nguyên nước giữa Ủy ban nhân dân cấp huyện với nhau, giải quyết tranh chấp đã có quyết định giải quyết của Ủy ban nhân dân cấp huyện nhưng các bên tranh chấp không đồng ý; Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm giải quyết tranh chấp phát sinh trong việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước đối với các trường hợp thuộc thẩm quyền cấp giấy phép của mình.
Trường hợp không đồng ý với các quyết định giải quyết tranh chấp của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện thì có quyền khởi kiện tại Tòa án theo quy định của pháp luật.
Như vậy, thẩm quyền giải quyết tranh chấp tài nguyên nước thuộc về Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện và Tòa án.
3. Tranh chấp tài nguyên nguồn nước có được hòa giải không?
Theo khoản 1 Điều 76 Luật Tài nguyên nước 2012, khi xảy ra tranh chấp về tài nguyên nước, Nhà nước luôn tạo điều kiện để các bên tranh chấp lựa chọn giải quyết tranh chấp một cách hoà bình, có thể lựa chọn các biện pháp thích hợp bao gồm thương lượng, đàm phán trực tiếp, thông qua trung gian hoà giải hoặc sử dụng cơ chế trọng tài.
Theo đó, cơ chế hòa giải trong tranh chấp về tài nguyên nước thực hiện như sau:
- Nhà nước khuyến khích các bên tự hòa giải các tranh chấp về tài nguyên nước;
- Nhà nước khuyến khích giải quyết tranh chấp về tài nguyên nước giữa cá nhân, hộ gia đình với nhau thông qua hòa giải tại cơ sở theo quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở;
- Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức hòa giải các tranh chấp về tài nguyên nước trên địa bàn khi có đề nghị của các bên tranh chấp.
Như vậy, hoàn toàn có thể áp dụng cơ chế hòa giải trong tranh chấp tài nguyên nguồn nước.
4. Khi có thiệt hại các bên có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại không?
Câu trả lời là có. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, bồi thường thiệt hại do vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường thuộc lĩnh vực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Căn cứ theo quy định tại khoản 5 Điều 76 Luật Tài nguyên nước 2012, yêu cầu về bồi thường thiệt hại liên quan đến giải quyết tranh chấp về tài nguyên nước được thực hiện theo quy định của pháp luật về Dân sự và pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Do vậy, khi có thiệt hại trong tranh chấp về tài nguyên nước thì các bên có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật về Dân sự và pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Trên đây là những thông tin cần thiết mà NPLaw cung cấp tới quý độc giả về tranh chấp tài nguyên nước. Nếu bạn vẫn còn những vướng mắc liên quan đến vấn đề trên hãy liên hệ ngay với chúng tôi. Các chuyên viên, Luật sư đầy nhiệt huyết với trình độ chuyên môn cao sẽ giải đáp thắc mắc và tư vấn cụ thể, chuyên sâu hơn cho quý Khách hàng.