Với sự phát triển của kinh tế - xã hội thì hoạt động bồi thường của Nhà nước về đất ngày càng diễn ra phổ biến. Kéo theo đó là thực trạng tranh chấp về nhận tiền bồi thường cũng xảy ra nhiều hơn so với trước đây. Vậy tranh chấp về nhận tiền bồi thường được hiểu như thế nào? Pháp luật đã quy định như thế nào khi có tranh chấp về nhận tiền bồi thường? Hãy cùng NPLaw tìm hiểu thông qua bài viết dưới đây.
I. Thực trạng về tranh chấp về nhận tiền bồi thường
Bồi thường được hiểu là việc đền bù cho những tổn thất, mất mát về vật chất, tinh thần nhằm mục đích khắc phục những hậu quả do hành vi gây thiệt hại. Tuy nhiên, khi những khoản tiền này đến với người dân bị thiệt hại, chẳng hạn như bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, thì lại xuất hiện tình trạng “tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân hoặc tranh chấp giữa những người trong thân tộc về nhận khoản tiền đền bù”. Đây được xem là thực trạng phổ biến hiện nay.

II. Quy định của pháp luật về tranh chấp về nhận tiền bồi thường
Pháp luật hiện hành quy định như thế nào về tranh chấp nhận tiền bồi thường.
1. Nguyên tắc bồi thường về đất khi bị nhà nước thu hồi
Theo quy định tại Điều 74 Luật Đất đai 2013 về các nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất, có 03 nguyên tắc được quy định như sau:
- Một là: Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật đất đai 2013 thì được bồi thường.
- Hai là: Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất.
- Ba là: Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật.
2. Quy định về chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ tái định cư
Theo quy định pháp luật hiện hành, việc chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo Điều 30 Nghị định 47/2014/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định 01/2017/NĐ-CP) như sau:
- Thứ nhất, việc trừ khoản tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai vào số tiền được bồi thường quy định tại Khoản 4 Điều 93 của Luật Đất đai 2013 được thực hiện theo quy định sau:
+ Một là, khoản tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai như tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp cho Nhà nước nhưng đến thời điểm thu hồi đất vẫn chưa nộp.
+ Hai là, số tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính được xác định theo quy định của pháp luật về thu tiền sử dụng đất; thu tiền thuê đất, thuê mặt nước. Trường hợp số tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính đến thời điểm có quyết định thu hồi đất lớn hơn số tiền được bồi thường, hỗ trợ thì hộ gia đình, cá nhân tiếp tục được ghi nợ số tiền chênh lệch đó; nếu hộ gia đình, cá nhân được bố trí tái định cư thì sau khi trừ số tiền bồi thường, hỗ trợ vào số tiền để được giao đất ở, mua nhà ở tại nơi tái định cư mà số tiền còn lại nhỏ hơn số tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì hộ gia đình, cá nhân tiếp tục được ghi nợ số tiền chênh lệch đó.
+ Ba là, tiền được bồi thường để trừ vào số tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính gồm tiền được bồi thường về đất, tiền được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại (nếu có). Không trừ các khoản tiền được bồi thường chi phí di chuyển, bồi thường thiệt hại về tài sản, bồi thường do ngừng sản xuất kinh doanh và các khoản tiền được hỗ trợ vào khoản tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai.
- Thứ hai, đối với trường hợp bồi thường bằng việc giao đất mới hoặc giao đất ở, nhà ở tái định cư hoặc nhà ở tái định cư, nếu có chênh lệch về giá trị thì phần chênh lệch đó được thanh toán bằng tiền như sau:
+ Một là, trường hợp tiền bồi thường về đất lớn hơn tiền đất ở, nhà ở hoặc tiền nhà ở tại khu tái định cư thì người tái định cư được nhận phần chênh lệch đó.
+ Hai là, trường hợp tiền bồi thường về đất nhỏ hơn tiền đất ở, nhà ở hoặc tiền nhà ở tái định cư thì người được bố trí tái định cư phải nộp phần chênh lệch, trừ trường hợp hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhận đất ở, nhà ở tái định cư mà số tiền được bồi thường về đất nhỏ hơn giá trị một suất tái định cư tối thiểu.
- Thứ ba, trường hợp diện tích đất thu hồi đang có tranh chấp về quyền sử dụng đất mà chưa giải quyết xong thì tiền bồi thường, hỗ trợ đối với phần diện tích đất đang tranh chấp đó được chuyển vào Kho bạc Nhà nước chờ sau khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết xong thì trả cho ngươi có quyền sử dụng đất.
- Thứ tư, việc ứng vốn để bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được thực hiện như sau:
+ Một là, quỹ phát triển đất thực hiện ứng vốn cho Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng tạo quỹ đất sạch để giao đất, cho thuê đất thực hiện theo Quy chế mẫu về quản lý, sử dụng Quỹ phát triển đất.
+ Hai là, người được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai nếu tự nguyện ứng trước kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo phương án đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt thì được ngân sách nhà nước hoàn trả bằng hình thức trừ vào tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp. Mức được trừ không vượt quá tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp; số tiền còn lại (nếu có) được tính vào vốn đầu tư của dự án. Trường hợp người được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai mà được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất nếu tự nguyện ứng trước kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo phương án đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt thì kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được tính vào vốn đầu tư của dự án.
+ Ba là, người được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất không thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất mà ứng trước kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thì được tham gia trong quá trình tổ chức thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
Do vậy, việc chi trả tiền bồi thường, tái định cư được thực hiện theo quy định trên.

3. Tranh chấp tiền bồi thường đất với các chủ thể khác
Tranh chấp tiền bồi thường đất với các chủ thể khác là thực trạng phổ biến hiện nay. Do vậy, để bảo vệ quyền, lợi ích của người được nhận tiền bồi thường, pháp luật đã đặt ra quy định về chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi có tranh chấp tại khoản 3 Điều 30 Nghị định 47/2014/NĐ-CP.
Theo đó, đối với diện tích đất thu hồi đang có tranh chấp chưa được giải quyết xong, tiền bồi thường với phần đất bị thu hồi đó sẽ được chuyển vào Kho bạc Nhà nước và sau khi giải quyết xong tranh chấp thì số tiền bồi thường này sẽ được trả cho người được xác định có quyền sử dụng đất sau tranh chấp.
III. Giải đáp một số câu hỏi thường gặp về tranh chấp về nhận tiền bồi thường
1. Đất tranh chấp có bị giảm tiền bồi thường không?
Theo quy định pháp luật hiện hành, việc có tranh chấp về nhận tiền bồi thường không ảnh hưởng đến tiền bồi thường khi thu hồi đất đã được phê duyệt trước đó. Vì theo điểm đ khoản 4 Điều 114 Luật đất đai 2013, giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm có quyết định thu hồi đất sẽ là căn cứ để tiến hành tính tiền bồi thường khi nhà nước thu hồi đất.
Do vậy, việc có tranh chấp về nhận tiền bồi thường không làm ảnh hưởng đến số tiền bồi thường.
2. Nhận tiền bồi thường khi đất đang có tranh chấp như thế nào?
Theo khoản 3 Điều 30 Nghị định 47/2014/NĐ-CP, khi đất đang tranh chấp, số tiền bồi thường sẽ được chuyển vào kho bạc Nhà nước. Sau khi, tranh chấp được giải quyết xong, sẽ tiến hành chi trả khoản tiền này cho người được xác định là có quyền sử dụng đất sau khi giải quyết xong tranh chấp.

IV. Dịch vụ tư vấn pháp lý liên quan đến tranh chấp về nhận tiền bồi thường
Trên đây là những thông tin xoay quanh về tranh chấp về nhận tiền bồi thường. Để có thể được hỗ trợ cũng như tìm hiểu thông tin, quy định của pháp luật về tranh chấp về nhận tiền bồi thường. Quý khách có thể liên hệ NPLaw để được tư vấn bởi đội ngũ luật sư, chuyên viên pháp lý dày dặn kinh nghiệm.