Nhu cầu học và sử dụng chứng chỉ tâm lý học ngắn hạn ngày càng phổ biến, đặc biệt trong các lĩnh vực tư vấn, giáo dục và chăm sóc sức khỏe tinh thần. NPLaw phân tích các quy định hiện hành để làm rõ giá trị của loại chứng chỉ này và giới hạn khi sử dụng trong hoạt động chuyên môn.
I. Giới thiệu các vấn đề liên quan đến chứng chỉ tâm lý học ngắn hạn
Chứng chỉ tâm lý học ngắn hạn hiện được sử dụng phổ biến để chỉ các khóa đào tạo, bồi dưỡng kiến thức hoặc kỹ năng liên quan đến tâm lý học trong thời gian ngắn. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành không quy định một loại chứng chỉ thống nhất có tên chính thức là “Chứng chỉ tâm lý học ngắn hạn”. Khoản 3 Điều 6 Luật Giáo dục nghề nghiệp 2025 có quy định về chứng chỉ đào tạo, nhưng giá trị của chứng chỉ phải được xác định dựa trên chương trình, cơ sở đào tạo và mục đích sử dụng cụ thể.
Đặc biệt, cần phân biệt chứng chỉ tâm lý học ngắn hạn với chứng chỉ đào tạo chuyên khoa cơ bản về tâm lý lâm sàng. Trường hợp hoạt động liên quan đến khám bệnh, chữa bệnh, người thực hiện phải tuân thủ các điều kiện về người hành nghề và cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo Luật Khám bệnh, chữa bệnh; một chứng chỉ tâm lý học ngắn hạn thông thường không tự tạo quyền hành nghề.
Khi đánh giá một chứng chỉ tâm lý học ngắn hạn, cần xem xét ít nhất ba yếu tố: cơ sở cấp chứng chỉ, nội dung và thời lượng chương trình đào tạo, mục đích sử dụng chứng chỉ. Không nên chỉ căn cứ vào tên gọi hoặc thời lượng khóa học để kết luận người sở hữu có đủ điều kiện hành nghề tâm lý hay thực hiện hoạt động khám bệnh, chữa bệnh.
Tóm lại, chứng chỉ tâm lý học ngắn hạn chủ yếu có ý nghĩa xác nhận việc hoàn thành một chương trình đào tạo nhất định; giá trị sử dụng và phạm vi chuyên môn phải được xác định theo quy định pháp luật tương ứng, đặc biệt khi chứng chỉ được sử dụng trong lĩnh vực y tế.
II. Tìm hiểu về chứng chỉ tâm lý học ngắn hạn
Để xác định đúng giá trị của chứng chỉ tâm lý học ngắn hạn, cần xem xét đồng thời quy định về giáo dục nghề nghiệp và pháp luật chuyên ngành y tế.
1. Chứng chỉ tâm lý học ngắn hạn theo quy định pháp luật về giáo dục nghề nghiệp và y tế là gì?
Trong pháp luật giáo dục nghề nghiệp, chứng chỉ đào tạo có thể được cấp cho người học hoàn thành một chương trình đào tạo nghề khác và đáp ứng yêu cầu của chương trình theo khoản 3 Điều 6 Luật Giáo dục nghề nghiệp 2025. Luật không quy định một loại chứng chỉ riêng mang tên “chứng chỉ tâm lý học ngắn hạn”. Do đó, nếu một cơ sở tổ chức khóa học về tâm lý học ứng dụng, kỹ năng giao tiếp, tham vấn cơ bản hoặc chuyên đề tương tự thì chứng chỉ được cấp phải phản ánh đúng chương trình và kết quả đào tạo thực tế.
Trong lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh, thuật ngữ có ý nghĩa pháp lý đặc biệt lại là “chứng chỉ đào tạo chuyên khoa cơ bản về tâm lý lâm sàng”. Theo khoản 2 Điều 128 Nghị định 96/2023/NĐ-CP, chứng chỉ này phải được cấp bởi cơ sở đáp ứng điều kiện; chương trình, tài liệu phải phù hợp với chương trình đào tạo chuyên khoa tương ứng và thời gian đào tạo tối thiểu là 09 tháng. Vì vậy, cần tránh sử dụng tên gọi “chứng chỉ tâm lý học ngắn hạn” để tạo ấn tượng rằng đây là chứng chỉ chuyên khoa đủ điều kiện hành nghề tâm lý lâm sàng.
2. Bản chất pháp lý và phạm vi ứng dụng thực tế của chứng chỉ tâm lý học ngắn hạn gồm những hoạt động nào?
Về bản chất, chứng chỉ tâm lý học ngắn hạn thường là giấy tờ xác nhận người học đã hoàn thành một chương trình đào tạo, bồi dưỡng về một nội dung tâm lý nhất định. Tuy nhiên, hiện nay chưa có quy định cụ thể về một loại chứng chỉ có tên pháp lý thống nhất là “chứng chỉ tâm lý học ngắn hạn”.
Về phạm vi sử dụng, chứng chỉ tâm lý học ngắn hạn có thể được sử dụng để bổ sung kiến thức, kỹ năng phục vụ công việc, đào tạo hoặc bồi dưỡng chuyên môn theo đúng nội dung chương trình. Tuy nhiên, chứng chỉ này không tự làm phát sinh quyền hành nghề tâm lý lâm sàng hoặc khám bệnh, chữa bệnh.
Đối với hoạt động tâm lý lâm sàng, pháp luật quy định riêng về chứng chỉ đào tạo chuyên khoa cơ bản về tâm lý lâm sàng. Theo khoản 2 Điều 128 Nghị định 96/2023/NĐ-CP, chứng chỉ này phải do cơ sở đào tạo đáp ứng điều kiện cấp; chương trình, tài liệu, khối lượng học tập và giảng viên phải phù hợp với chương trình đào tạo chuyên khoa tương ứng; thời gian đào tạo tối thiểu 09 tháng. Đặc biệt, khoản 8 Điều 8 Nghị định 96/2023/NĐ-CP quy định người có bằng cử nhân tâm lý học và chứng chỉ đào tạo chuyên khoa cơ bản về tâm lý lâm sàng mới thuộc trường hợp được tham dự kiểm tra đánh giá năng lực để cấp giấy phép hành nghề với chức danh tâm lý lâm sàng.
Vì vậy, cần phân biệt rõ: chứng chỉ tâm lý học ngắn hạn chủ yếu có giá trị xác nhận kết quả đào tạo; không thể sử dụng riêng chứng chỉ này để mở phòng khám, thực hiện khám bệnh, chữa bệnh hoặc hành nghề tâm lý lâm sàng nếu chưa đáp ứng đầy đủ các điều kiện pháp luật chuyên ngành.
3. Phân biệt sự khác nhau giữa bằng cử nhân tâm lý học chính quy, giấy phép hành nghề lâm sàng và chứng chỉ tâm lý học ngắn hạn?
Ba loại giấy tờ này có bản chất pháp lý hoàn toàn khác nhau, không thể sử dụng thay thế cho nhau:
|
Tiêu chí |
Bằng cử nhân tâm lý học |
Giấy phép hành nghề tâm lý lâm sàng |
Chứng chỉ tâm lý học ngắn hạn |
|
Bản chất |
Văn bằng giáo dục đại học |
Giấy phép cho phép hành nghề |
Xác nhận hoàn thành một chương trình đào tạo |
|
Mục đích |
Xác nhận trình độ đại học chuyên ngành tâm lý học |
Xác nhận đủ điều kiện hành nghề trong phạm vi được cấp |
Bổ sung kiến thức, kỹ năng theo chương trình học |
|
Thời gian đào tạo |
Chương trình đào tạo trình độ đại học |
Phải đáp ứng điều kiện về văn bằng, thực hành, đánh giá năng lực và các điều kiện khác |
Phụ thuộc chương trình đào tạo
|
Vì vậy, có bằng cử nhân tâm lý học chưa đồng nghĩa được hành nghề tâm lý lâm sàng; ngược lại, chứng chỉ tâm lý học ngắn hạn cũng không thể thay thế bằng cử nhân hoặc giấy phép hành nghề.
4. Quy chuẩn chương trình đào tạo và kiểm tra để cấp chứng chỉ tâm lý học ngắn hạn được quy định ra sao?
Hiện nay chưa có quy định cụ thể về một “khung chương trình quốc gia” chung mang tên chứng chỉ tâm lý học ngắn hạn áp dụng cho mọi khóa học. Nếu chương trình thuộc giáo dục nghề nghiệp, Điều 17 Luật Giáo dục nghề nghiệp 2025 quy định về chuẩn chương trình đào tạo; đối với chương trình đào tạo nghề khác, cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp có trách nhiệm xây dựng, thẩm định và ban hành chương trình theo quy định.
Đối với chứng chỉ đào tạo chuyên khoa cơ bản về tâm lý lâm sàng, yêu cầu nghiêm ngặt hơn. Theo khoản 2 Điều 128 Nghị định 96/2023/NĐ-CP, chương trình và tài liệu phải phù hợp với chương trình đào tạo chuyên khoa tương ứng, có tính liên thông với chương trình chuyên khoa và thời gian đào tạo tối thiểu 09 tháng. Tuy nhiên, không nên lấy yêu cầu của chứng chỉ chuyên khoa cơ bản về tâm lý lâm sàng áp dụng cho mọi khóa “tâm lý học ngắn hạn”.
III. Các quy định pháp luật có liên quan đến chứng chỉ tâm lý học ngắn hạn
Các quy định hiện hành cho thấy cần phân biệt rõ chương trình cấp chứng chỉ với chương trình đào tạo cấp văn bằng và với đào tạo chuyên khoa trong lĩnh vực y tế.
1. Điều kiện pháp lý để một trung tâm, học viện được phép mở lớp và cấp chứng chỉ tâm lý học ngắn hạn là gì?
Theo khoản 3 Điều 7 và khoản 2 Điều 19 Luật Giáo dục nghề nghiệp 2025, các trung tâm, doanh nghiệp, hợp tác xã và một số cơ sở khác có thể thực hiện các chương trình đào tạo nghề khác nếu đáp ứng điều kiện pháp luật. Đặc biệt, chương trình cấp chứng chỉ không thuộc đối tượng cấp phép hoạt động giáo dục nghề nghiệp. Tuy nhiên, trước khi tuyển sinh và tổ chức đào tạo, cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp phải đăng ký thông tin về chương trình đào tạo vào cơ sở dữ liệu chuyên ngành theo khoản 1 Điều 20 Luật Giáo dục nghề nghiệp 2025.
Do đó, không thể kết luận rằng một trung tâm cứ đăng ký kinh doanh là mặc nhiên được cấp “chứng chỉ giáo dục nghề nghiệp”. Cần xác định trung tâm có phải là cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp và chương trình có thuộc phạm vi được phép tổ chức hay không. Vì vậy, cơ sở đào tạo phải công khai đúng tên chương trình, nội dung, thời lượng, điều kiện cấp chứng chỉ và không được quảng cáo vượt quá giá trị pháp lý của chứng chỉ.
2. Thành phần hồ sơ xin đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp để cấp chứng chỉ tâm lý học ngắn hạn gồm những gì?
Hiện nay chương trình cấp chứng chỉ không thuộc đối tượng phải xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp. Theo khoản 2 Điều 19 Luật Giáo dục nghề nghiệp 2025, các chương trình cấp chứng chỉ không thuộc đối tượng cấp phép hoạt động giáo dục nghề nghiệp.
Tuy nhiên, theo khoản 1 Điều 20 Luật Giáo dục nghề nghiệp 2025, cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp phải đăng ký thông tin về chương trình đào tạo vào cơ sở dữ liệu chuyên ngành về giáo dục nghề nghiệp trước khi tuyển sinh, tổ chức đào tạo. Do đó, hiện nay chưa có một bộ hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp riêng đối với chương trình chỉ cấp chứng chỉ tâm lý học ngắn hạn. Các quy định về hồ sơ đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp áp dụng cho các trường hợp thuộc diện phải đăng ký; không nên lấy nguyên các thành phần hồ sơ này để áp dụng cho chương trình cấp chứng chỉ theo Luật Giáo dục nghề nghiệp 2025.
3. Trình tự, thủ tục kiểm tra năng lực và cấp phôi chứng chỉ tâm lý học ngắn hạn đúng chuẩn là gì?
Hiện nay chưa có quy định cụ thể về một thủ tục chung mang tên “kiểm tra năng lực và cấp phôi chứng chỉ tâm lý học ngắn hạn”. Vì vậy, không thể mặc nhiên yêu cầu người học phải trải qua một kỳ kiểm tra năng lực do cơ quan nhà nước tổ chức hoặc phải xin phôi chứng chỉ của cơ quan quản lý. Do đó, đối với chứng chỉ tâm lý học ngắn hạn thông thường, có thể hiểu quy trình theo hướng:
- Xây dựng và công bố chương trình đào tạo, trong đó xác định mục tiêu, nội dung, thời lượng và yêu cầu hoàn thành khóa học.
- Đăng ký thông tin chương trình theo quy định trước khi tuyển sinh, nếu chương trình thuộc phạm vi giáo dục nghề nghiệp.
- Tổ chức đào tạo và đánh giá kết quả học tập theo yêu cầu của chương trình.
- Người học đáp ứng yêu cầu thì cơ sở đào tạo cấp chứng chỉ theo thẩm quyền.
- Cơ sở đào tạo tự quản lý việc in, cấp và lưu trữ chứng chỉ theo quy định áp dụng đối với loại chứng chỉ đó; không có quy định chung rằng phải xin một loại “phôi chứng chỉ tâm lý học” riêng từ cấp thẩm quyền.
Vì vậy, nếu đang nói đến chứng chỉ đào tạo chuyên khoa cơ bản về tâm lý lâm sàng, thì đây là trường hợp hoàn toàn khác. Theo khoản 2 Điều 128 Nghị định 96/2023/NĐ-CP, chương trình này phải đáp ứng các điều kiện riêng về cơ sở đào tạo, chương trình, tài liệu, thời gian đào tạo và đội ngũ giảng viên. Đây không phải là chứng chỉ tâm lý học ngắn hạn thông thường.
IV. Các thắc mắc thường gặp liên quan đến chứng chỉ tâm lý học ngắn hạn
Một số vấn đề thực tế cần được giải quyết dựa trên đúng bản chất của chứng chỉ và hoạt động mà người sở hữu dự định thực hiện.
1. Thẩm quyền thanh tra, kiểm tra và thu hồi các khóa đào tạo cấp chứng chỉ tâm lý học ngắn hạn thuộc cơ quan nào?
Hiện nay, chưa có một cơ quan duy nhất có thẩm quyền đối với mọi khóa đào tạo cấp chứng chỉ tâm lý học ngắn hạn. Thẩm quyền phụ thuộc vào loại chương trình và lĩnh vực hoạt động của cơ sở đào tạo.
Nếu khóa học thuộc giáo dục nghề nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp ở trung ương có nhiệm vụ kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giáo dục nghề nghiệp; UBND cấp tỉnh cũng có trách nhiệm kiểm tra việc chấp hành pháp luật của các cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn theo thẩm quyền.
Đối với thanh tra chuyên ngành, khoản 3 Điều 19 Luật Giáo dục nghề nghiệp 2025 quy định cơ quan được giao thực hiện chức năng quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành; có nhiệm vụ thanh tra việc chấp hành pháp luật, phát hiện và xử lý hoặc kiến nghị xử lý vi phạm. Vì vậy, nên xác định trước khóa học thuộc giáo dục nghề nghiệp thông thường hay đào tạo chuyên khoa tâm lý lâm sàng để xác định đúng cơ quan thanh tra, kiểm tra và biện pháp xử lý.
2. Các trường hợp tổ chức đào tạo nào bị đình chỉ hoạt động cấp chứng chỉ tâm lý học ngắn hạn do vi phạm pháp luật?
Hiện nay chưa có quy định riêng về hình thức “đình chỉ hoạt động cấp chứng chỉ tâm lý học ngắn hạn” đối với mọi khóa học mang tên này. Việc đình chỉ phải căn cứ vào loại chương trình, tư cách của cơ sở đào tạo và hành vi vi phạm cụ thể. Nếu chương trình thuộc giáo dục nghề nghiệp, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính cho phép áp dụng đình chỉ hoạt động có thời hạn là một hình thức xử phạt bổ sung theo điểm c khoản 2 Điều 3 Nghị định 88/2022/NĐ-CP. Một số hành vi có thể dẫn đến việc áp dụng hình thức đình chỉ hoặc biện pháp xử lý tương ứng gồm:
- Tổ chức hoạt động giáo dục nghề nghiệp khi chưa đủ điều kiện theo quy định;
- Tổ chức đào tạo không đúng nội dung, chương trình hoặc phạm vi được phép;
- Tuyển sinh trong thời gian đang bị đình chỉ hoạt động; hành vi này còn bị xử phạt tiền theo quy định tại Nghị định 88/2022/NĐ-CP.
- Gian lận hồ sơ, sử dụng hồ sơ không hợp pháp để được thành lập hoặc được phép hoạt động giáo dục nghề nghiệp; tùy trường hợp còn có thể bị buộc thu hồi quyết định, hoàn trả khoản tiền đã thu và xử lý số lợi bất hợp pháp.
- Vi phạm nghiêm trọng trong việc tổ chức đào tạo, kiểm tra, đánh giá hoặc cấp văn bằng, chứng chỉ, tùy hành vi có thể bị phạt tiền và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả.
Vì vậy, không nên áp dụng máy móc các quy định về đình chỉ hoạt động giáo dục nghề nghiệp đối với mọi khóa “chứng chỉ tâm lý học ngắn hạn”.
3. Có chứng chỉ tâm lý học ngắn hạn thì có được phép mở phòng khám trị liệu tâm lý độc lập không? Vì sao?
Chỉ có chứng chỉ tâm lý học ngắn hạn không đủ điều kiện để một cá nhân tự mở và trực tiếp hoạt động tại phòng khám trị liệu tâm lý độc lập. Theo khoản 8 Điều 8 Nghị định 96/2023/NĐ-CP, để được tham dự kiểm tra đánh giá năng lực cấp giấy phép hành nghề với chức danh tâm lý lâm sàng, người có bằng cử nhân tâm lý học còn phải có chứng chỉ đào tạo chuyên khoa cơ bản về tâm lý lâm sàng theo khoản 2 Điều 128 Nghị định này. Chứng chỉ tâm lý học ngắn hạn thông thường không được pháp luật quy định là giấy tờ thay thế chứng chỉ chuyên khoa này.
Ngoài điều kiện của người hành nghề, cơ sở thực hiện khám bệnh, chữa bệnh phải có Giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh theo khoản 1 Điều 49 Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2023. Đối với cơ sở tâm lý lâm sàng, Điều 54 Nghị định 96/2023/NĐ-CP còn yêu cầu người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật phải là người hành nghề thuộc chức danh tâm lý lâm sàng hoặc bác sĩ có phạm vi hành nghề chuyên khoa tâm thần và đã hoàn thành chứng chỉ đào tạo chuyên khoa cơ bản về tâm lý lâm sàng. Vì vậy, người chỉ có chứng chỉ tâm lý học ngắn hạn không được dựa vào chứng chỉ này để tự mở phòng khám và thực hiện trị liệu tâm lý thuộc phạm vi khám bệnh, chữa bệnh.
4. Hành vi cho thuê, mượn hoặc mua bán chứng chỉ tâm lý học ngắn hạn sẽ bị xử lý như thế nào?
Không được cho thuê, mượn hoặc mua bán chứng chỉ để sử dụng thay cho năng lực, trình độ của người khác. Tuy nhiên, cần xác định trước chứng chỉ đó có phải là văn bằng, chứng chỉ thuộc phạm vi giáo dục nghề nghiệp hay chỉ là giấy xác nhận hoàn thành một khóa học thông thường. Đối với văn bằng, chứng chỉ giáo dục nghề nghiệp, hành vi sử dụng văn bằng, chứng chỉ của người khác hoặc cho người khác sử dụng văn bằng, chứng chỉ của mình bị xử phạt theo điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị định 88/2022/NĐ-CP; quy định phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng đối với hành vi sử dụng văn bằng, chứng chỉ của người khác hoặc cho người khác sử dụng văn bằng, chứng chỉ của mình. Ngoài ra, tùy trường hợp còn có thể áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả liên quan đến văn bằng, chứng chỉ.
Tuy nhiên, đối với “chứng chỉ tâm lý học ngắn hạn” thông thường, hiện nay chưa có quy định riêng xác định hành vi cho thuê, mượn hoặc mua bán loại chứng chỉ này với một mức phạt riêng. Vì vậy, không nên mặc nhiên áp dụng Điều 23 Nghị định 88/2022/NĐ-CP cho mọi giấy chứng nhận mang tên “chứng chỉ tâm lý học ngắn hạn”.
Về trách nhiệm hình sự, trường hợp chứng chỉ được làm giả hoặc hành vi sử dụng giấy tờ giả nhằm thực hiện hành vi trái pháp luật có thể bị xem xét theo Điều 341 Bộ luật Hình sự 2015 về tội làm giả hoặc sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức. Khung hình phạt cơ bản là phạt tiền từ 30 triệu đồng đến 100 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm. Trường hợp phạm tội có tổ chức, phạm tội 02 lần trở lên, thu lợi bất chính từ mức luật định hoặc thuộc các trường hợp tăng nặng khác thì có thể bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm; trường hợp nghiêm trọng hơn có thể bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm. Tuy nhiên, nếu chứng chỉ tâm lý học ngắn hạn được cấp hợp pháp, không phải giấy tờ giả và việc cho mượn, sử dụng không làm phát sinh các dấu hiệu của tội phạm khác thì chưa có căn cứ để mặc nhiên truy cứu trách nhiệm hình sự. Việc xử lý khi đó phải căn cứ vào tính chất của chứng chỉ, hành vi cụ thể và mục đích sử dụng.
Vì vậy, khi xử lý trường hợp cho thuê, mượn hoặc mua bán chứng chỉ tâm lý học ngắn hạn, cần xác định chính xác loại chứng chỉ, cơ sở cấp và mục đích sử dụng trước khi xác định điều khoản xử phạt.
5. Các loại chứng chỉ tâm lý học ngắn hạn từ các hiệp hội nước ngoài cấp có được pháp luật Việt Nam công nhận để hành nghề không? Vì sao?
Chứng chỉ tâm lý học ngắn hạn do hiệp hội nước ngoài cấp chỉ chứng minh việc hoàn thành chương trình đào tạo của tổ chức đó, không tự động có giá trị thay thế Giấy phép hành nghề theo pháp luật Việt Nam.
Đối với hành nghề tâm lý lâm sàng, người hành nghề phải đáp ứng các điều kiện về văn bằng, đào tạo, thực hành và giấy phép hành nghề theo Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2023. Cụ thể, khoản 1 Điều 19 Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2023 quy định người nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài muốn hành nghề tại Việt Nam phải đáp ứng các điều kiện luật định; việc công nhận văn bằng, chứng chỉ và điều kiện hành nghề phải được xem xét theo quy định chuyên ngành.
Đặc biệt, đối với chức danh tâm lý lâm sàng, khoản 8 Điều 8 Nghị định 96/2023/NĐ-CP quy định cụ thể các yêu cầu về văn bằng và chứng chỉ đào tạo chuyên khoa cơ bản về tâm lý lâm sàng. Vì vậy, một chứng chỉ tâm lý học ngắn hạn do hiệp hội nước ngoài cấp không mặc nhiên được xem là chứng chỉ đào tạo chuyên khoa cơ bản đáp ứng điều kiện hành nghề.
Ngoài ra, Điều 128 Nghị định 96/2023/NĐ-CP đặt ra yêu cầu riêng đối với chứng chỉ đào tạo chuyên khoa cơ bản về tâm lý lâm sàng, bao gồm điều kiện về cơ sở đào tạo, chương trình, tài liệu, thời gian đào tạo và đội ngũ giảng viên. Do đó, cần đánh giá chứng chỉ nước ngoài có đáp ứng đúng loại chứng chỉ và điều kiện được pháp luật Việt Nam công nhận hay không.
Vì vậy, khi sử dụng chứng chỉ tâm lý học ngắn hạn do tổ chức nước ngoài cấp, cần phân biệt giữa giá trị chứng minh đã tham gia đào tạo và giá trị pháp lý để hành nghề. Chỉ có chứng chỉ nước ngoài không đồng nghĩa với việc được phép hành nghề tâm lý lâm sàng hoặc thực hiện khám bệnh, chữa bệnh tại Việt Nam.
V. Bạn cần dịch vụ tư vấn pháp lý trọn gói, nhanh chóng về quy định đào tạo và ứng dụng chứng chỉ tâm lý học ngắn hạn tại hãy liên hệ NPLaw ngay nhé?
NPLaw có thể hỗ trợ rà soát điều kiện pháp lý của cơ sở đào tạo; kiểm tra chương trình và chứng chỉ dự kiến cấp; phân biệt chứng chỉ đào tạo thông thường với chứng chỉ chuyên khoa cơ bản về tâm lý lâm sàng; đồng thời tư vấn điều kiện pháp lý khi sử dụng chứng chỉ trong hoạt động tư vấn, trị liệu hoặc khám bệnh, chữa bệnh.
Tóm lại, chứng chỉ tâm lý học ngắn hạn có thể có giá trị chứng minh việc hoàn thành một chương trình đào tạo nhất định, nhưng không mặc nhiên có giá trị như bằng cử nhân tâm lý học, chứng chỉ chuyên khoa cơ bản về tâm lý lâm sàng hoặc giấy phép hành nghề. Việc sử dụng chứng chỉ phải phù hợp với đúng phạm vi pháp lý của loại chứng chỉ đó.
Trên đây là các thông tin mang tính tham khảo, Quý khách hàng cần tư vấn chi tiết về trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ cho Hãng luật NPLaw để được tư vấn ngay.