NPLaw cung cấp thông tin pháp lý nhằm giúp cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và người bệnh hiểu đúng về Danh mục kỹ thuật phục hồi chức năng tâm thần và việc áp dụng các kỹ thuật này trên thực tế.
I. Phục hồi chức năng tâm thần và nhu cầu áp dụng trong thực tiễn
Trước khi tìm hiểu cụ thể về danh mục kỹ thuật phục hồi chức năng tâm thần, cần xác định đúng vai trò của phục hồi chức năng trong hoạt động khám bệnh, chữa bệnh. Phục hồi chức năng không chỉ hướng đến việc điều trị một triệu chứng hoặc bệnh lý cụ thể mà còn nhằm giúp người bệnh phát triển, duy trì tối đa khả năng hoạt động và hạn chế tình trạng khuyết tật.

Theo khoản 1 Điều 3 Thông tư 46/2013/TT-BYT, được sửa đổi bởi Thông tư 24/2021/TT-BYT, phục hồi chức năng là tập hợp các can thiệp bao gồm phương pháp y học, kỹ thuật phục hồi chức năng, công nghệ trợ giúp, biện pháp giáo dục, hướng nghiệp, xã hội và cải thiện môi trường nhằm giúp người bệnh phát triển, đạt được, duy trì tối đa hoạt động chức năng và phòng ngừa, giảm khuyết tật.
Đối với lĩnh vực tâm thần, phục hồi chức năng có ý nghĩa trong việc hỗ trợ người bệnh cải thiện khả năng thích nghi, giao tiếp, sinh hoạt, lao động và tái hòa nhập cộng đồng tùy theo tình trạng cụ thể. Việc lựa chọn và thực hiện kỹ thuật phải gắn với nhu cầu, tình trạng sức khỏe và phạm vi chuyên môn được phê duyệt của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
Tóm lại, phục hồi chức năng tâm thần là một bộ phận quan trọng trong quá trình chăm sóc người bệnh và cần được thực hiện trên cơ sở chuyên môn, đúng phạm vi hoạt động được cấp phép.
II. Những nội dung cần biết về danh mục kỹ thuật phục hồi chức năng tâm thần
Để hiểu đúng danh mục kỹ thuật phục hồi chức năng tâm thần, cần phân biệt giữa danh mục kỹ thuật do Bộ Y tế ban hành và danh mục kỹ thuật cụ thể mà từng cơ sở được phép triển khai.
1. Danh mục kỹ thuật phục hồi chức năng tâm thần được hiểu như thế nào?
Theo khoản 18 Điều 2 Luật khám bệnh, chữa bệnh năm 2023, phục hồi chức năng là tập hợp các can thiệp, bao gồm các phương pháp y học, kỹ thuật phục hồi chức năng, công nghệ trợ giúp, biện pháp giáo dục, hướng nghiệp, xã hội và cải thiện môi trường, để người bệnh phát triển, đạt được, duy trì tối đa hoạt động chức năng, phòng ngừa và giảm tình trạng khuyết tật phù hợp với môi trường sống của họ.
Hiện nay, pháp luật không sử dụng một danh mục riêng có tên chính thức là “Danh mục kỹ thuật phục hồi chức năng tâm thần” theo đúng cách gọi này. Về mặt pháp lý, các kỹ thuật liên quan được xác định trong hệ thống danh mục chuyên môn kỹ thuật khám bệnh, chữa bệnh và phạm vi hoạt động chuyên môn của từng cơ sở. Thông tư 23/2024/TT-BYT hiện đang ban hành Danh mục chuyên môn kỹ thuật trong khám bệnh, chữa bệnh. Danh mục được phân theo các chuyên khoa, trong đó có tâm thần và phục hồi chức năng.
Trong danh mục kỹ thuật trước đây, nhóm kỹ thuật thuộc lĩnh vực tâm thần đã bao gồm các kỹ thuật như liệu pháp giải thích hợp lý, liệu pháp kích hoạt hành vi, liệu pháp lao động, liệu pháp tái thích ứng xã hội, liệu pháp tâm lý gia đình, liệu pháp tâm lý nhóm và liệu pháp thể dục, thể thao. Khi sử dụng thuật ngữ danh mục kỹ thuật phục hồi chức năng tâm thần, cần hiểu theo hướng tổng hợp các kỹ thuật chuyên môn có liên quan đến phục hồi chức năng và chăm sóc sức khỏe tâm thần, chứ không mặc nhiên coi đây là tên của một danh mục pháp lý độc lập. Kết luận lại, việc xác định một kỹ thuật có được thực hiện hay không phải căn cứ vào danh mục chuyên môn kỹ thuật hiện hành và phạm vi hoạt động chuyên môn được phê duyệt của cơ sở.
2. Phục hồi chức năng tâm thần hướng đến những khả năng nào của người bệnh?
Phục hồi chức năng tâm thần hướng đến việc hỗ trợ người bệnh duy trì hoặc cải thiện những khả năng cần thiết cho cuộc sống hằng ngày và khả năng hòa nhập xã hội. Tùy tình trạng của từng người bệnh, các hoạt động có thể hướng đến khả năng giao tiếp, tương tác xã hội, tự chăm sóc, thực hiện sinh hoạt hằng ngày, kiểm soát hành vi, thích nghi với môi trường, tham gia học tập hoặc lao động. Việc áp dụng kỹ thuật cụ thể phải dựa trên đánh giá chuyên môn và mục tiêu phục hồi của người bệnh. Theo quy định về chức năng của cơ sở phục hồi chức năng, hoạt động phục hồi chức năng còn gắn với việc tư vấn cho người bệnh và gia đình về phục hồi chức năng, tâm lý, giáo dục và hướng nghiệp. Vì vậy, mục tiêu của phục hồi chức năng tâm thần không chỉ là cải thiện biểu hiện bệnh mà còn hướng đến khả năng hoạt động và thích nghi thực tế của người bệnh.
3. Việc lựa chọn kỹ thuật phục hồi chức năng tâm thần phụ thuộc vào những yếu tố nào?
Việc lựa chọn kỹ thuật phục hồi chức năng tâm thần cần được xem xét trên cơ sở tình trạng cụ thể của người bệnh và điều kiện chuyên môn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Trước hết, kỹ thuật được lựa chọn phải phù hợp với tình trạng sức khỏe, mức độ hạn chế chức năng, mục tiêu phục hồi và khả năng đáp ứng của người bệnh. Tùy từng trường hợp, có thể tập trung vào khả năng giao tiếp, sinh hoạt, tương tác xã hội, kiểm soát hành vi hoặc thích nghi với môi trường.
Bên cạnh yếu tố chuyên môn, kỹ thuật được lựa chọn còn phải nằm trong phạm vi hành nghề của người thực hiện và phạm vi hoạt động chuyên môn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Theo khoản 2 Điều 4 Thông tư 23/2024/TT-BYT, người đã được cấp chứng chỉ hành nghề, giấy phép hành nghề được tiếp tục thực hiện các kỹ thuật phù hợp với phạm vi hành nghề; đồng thời cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải bảo đảm cơ sở vật chất, nhân lực và trang thiết bị để thực hiện các kỹ thuật đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Ngoài ra, khi lựa chọn kỹ thuật trong danh mục kỹ thuật phục hồi chức năng tâm thần, cơ sở cần đối chiếu danh mục kỹ thuật hiện hành với kỹ thuật đã được phê duyệt cho chính cơ sở. Vì vậy, việc lựa chọn kỹ thuật phục hồi chức năng tâm thần phụ thuộc chủ yếu vào tình trạng và nhu cầu của người bệnh, mục tiêu phục hồi, năng lực của người thực hiện và phạm vi kỹ thuật được cơ sở phê duyệt, nhằm bảo đảm kỹ thuật được áp dụng đúng chuyên môn và đúng quy định pháp luật.
III. Pháp luật quy định thế nào về danh mục kỹ thuật phục hồi chức năng tâm thần?
Để áp dụng danh mục kỹ thuật phục hồi chức năng tâm thần đúng quy định, cần xem xét đồng thời quy định về tổ chức cơ sở phục hồi chức năng, danh mục kỹ thuật chuyên môn và quyền của người bệnh.
1. Pháp luật quy định thế nào về việc tổ chức hoạt động phục hồi chức năng tâm thần tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh?
Hoạt động phục hồi chức năng tâm thần tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải được tổ chức phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, điều kiện chuyên môn và phạm vi hoạt động đã được phê duyệt. Theo Điều 2 Thông tư 46/2013/TT-BYT (được bổ sung bởi Khoản 1 Điều 1 Thông tư 24/2021/TT-BYT), cơ sở phục hồi chức năng có thể được tổ chức dưới hình thức khoa Phục hồi chức năng, trung tâm Phục hồi chức năng thuộc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, phòng khám Phục hồi chức năng hoặc bệnh viện Phục hồi chức năng.
Đối với khoa Phục hồi chức năng, khoản 1 Điều 7 Thông tư 46/2013/TT-BYT quy định khoa có nhiệm vụ khám bệnh, chữa bệnh và phục hồi chức năng cho người bệnh theo hình thức nội trú, ngoại trú và phục hồi chức năng ban ngày. Khoản 3 Điều 7 cũng quy định việc tư vấn cho người bệnh và gia đình về phục hồi chức năng, tâm lý, giáo dục và hướng nghiệp. Đồng thời, khoản 2 Điều 8 cho phép căn cứ vào quy mô giường bệnh và yêu cầu hoạt động để tổ chức thêm bộ phận hoạt động trị liệu, tâm lý trị liệu hoặc ngôn ngữ trị liệu.
Về kỹ thuật chuyên môn, cơ sở không được tự ý triển khai mọi kỹ thuật có trong danh mục của Bộ Y tế mà phải căn cứ vào phạm vi hoạt động chuyên môn và danh mục kỹ thuật được phê duyệt cho chính cơ sở. Hiện nay, Thông tư 23/2024/TT-BYT là văn bản đang có hiệu lực ban hành Danh mục kỹ thuật trong khám bệnh, chữa bệnh; trong đó danh mục được quy định tại Phụ lục số 01 và Phụ lục số 02 theo các giai đoạn áp dụng.
Vì vậy, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh muốn tổ chức hoạt động phục hồi chức năng tâm thần phải bảo đảm đúng mô hình tổ chức, nhân lực, điều kiện chuyên môn và đặc biệt phải thực hiện các kỹ thuật thuộc phạm vi hoạt động chuyên môn, danh mục kỹ thuật đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
2. Danh mục kỹ thuật phục hồi chức năng tâm thần được pháp luật quy định ra sao?
Hiện nay, pháp luật không ban hành một danh mục độc lập mang tên “Danh mục kỹ thuật phục hồi chức năng tâm thần”. Các kỹ thuật liên quan được xác định trong danh mục chuyên môn kỹ thuật trong khám bệnh, chữa bệnh do Bộ Y tế ban hành, đồng thời phải được đối chiếu với phạm vi hoạt động chuyên môn của từng cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
Cụ thể, theo Điều 1 Thông tư 23/2024/TT-BYT, danh mục được ban hành kèm theo các phụ lục và được phân loại theo chuyên khoa, chuyên ngành. Từ ngày 01/7/2026, danh mục kỹ thuật thực hiện theo Phụ lục số 02 của Thông tư 23/2024/TT-BYT.
Đối với lĩnh vực phục hồi chức năng, xác định kỹ thuật phục hồi chức năng gồm vật lý trị liệu, vận động trị liệu, hoạt động trị liệu, ngôn ngữ trị liệu, tâm lý trị liệu, can thiệp bằng dụng cụ phục hồi chức năng và các kỹ thuật khác. Trong đó, tâm lý trị liệu được xác định là kỹ thuật sử dụng các hình thức giao tiếp và tương tác để lượng giá, chẩn đoán, điều trị và can thiệp các rối loạn chức năng về phản ứng cảm xúc, cách suy nghĩ và mẫu hành vi của người bệnh.
Một điểm quan trọng là không phải kỹ thuật nào có trong danh mục của Bộ Y tế cũng mặc nhiên được mọi cơ sở thực hiện. Các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc trường hợp quy định phải được cấp có thẩm quyền phê duyệt danh mục kỹ thuật phục hồi chức năng trong phạm vi hoạt động chuyên môn của cơ sở. Vì vậy, khi xác định một cơ sở có được thực hiện kỹ thuật phục hồi chức năng tâm thần hay không, cần xem xét đồng thời danh mục kỹ thuật hiện hành và danh mục kỹ thuật đã được phê duyệt cho cơ sở đó. Vì vậy, khi tra cứu danh mục kỹ thuật phục hồi chức năng tâm thần, cần hiểu đây là cách gọi theo phạm vi chuyên môn, không phải tên của một danh mục pháp lý độc lập; đồng thời phải đối chiếu để xác định chính xác kỹ thuật được phép thực hiện.
3. Người bệnh được bảo đảm những quyền gì trong quá trình phục hồi chức năng tâm thần?
Trong quá trình phục hồi chức năng tâm thần, người bệnh vẫn được bảo đảm đầy đủ các quyền của người bệnh theo pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh. Các quyền này được áp dụng xuyên suốt quá trình khám, điều trị và phục hồi chức năng, không phụ thuộc vào việc người bệnh đang điều trị nội trú, ngoại trú hay phục hồi chức năng ban ngày.
- Thứ nhất, người bệnh có quyền được cung cấp thông tin và giải thích về tình trạng sức khỏe, phương pháp phục hồi. Theo khoản 1 Điều 9 Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2023, người bệnh được thông tin, giải thích về tình trạng sức khỏe, phương pháp và dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh, giá dịch vụ cũng như được hướng dẫn cách tự theo dõi, chăm sóc và phòng ngừa tai biến.
- Thứ hai, người bệnh được quyền lựa chọn và quyết định đối với việc khám bệnh, chữa bệnh theo quy định.
- Thứ ba, người bệnh được bảo đảm an toàn và phù hợp với tình trạng sức khỏe. Khoản 2 Điều 9 Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2023 quy định người bệnh được khám bệnh, chữa bệnh bằng phương pháp an toàn, phù hợp với bệnh, tình trạng sức khỏe và điều kiện thực tế của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
- Thứ tư, người bệnh được tôn trọng danh dự, nhân phẩm và quyền riêng tư. Quyền này đặc biệt quan trọng trong phục hồi chức năng tâm thần bởi người bệnh có thể gặp những hạn chế về nhận thức, cảm xúc, hành vi hoặc khả năng hòa nhập xã hội. Việc kỳ thị, tiết lộ thông tin bệnh lý hoặc đối xử thiếu tôn trọng có thể ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phục hồi của người bệnh.
- Thứ năm, người bệnh có quyền được tham gia vào quá trình phục hồi và được gia đình hỗ trợ trong phạm vi phù hợp.

Kết luận lại, người bệnh trong quá trình phục hồi chức năng tâm thần được bảo đảm các quyền cơ bản về được cung cấp thông tin, lựa chọn và quyết định trong khám chữa bệnh, được điều trị an toàn và phù hợp, được tôn trọng danh dự, nhân phẩm, bí mật riêng tư và được hỗ trợ, tư vấn để phục hồi, tái hòa nhập cộng đồng. Đây cũng là những nguyên tắc cần được cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và người hành nghề bảo đảm khi triển khai các kỹ thuật thuộc danh mục kỹ thuật phục hồi chức năng tâm thần.
4. Việc phối hợp giữa các hoạt động chuyên môn trong phục hồi chức năng tâm thần được thực hiện như thế nào?
Việc phục hồi chức năng tâm thần được thực hiện theo hướng phối hợp giữa nhiều hoạt động và nhiều chức danh chuyên môn, thay vì chỉ do một cá nhân hoặc một bộ phận thực hiện độc lập. Mục tiêu là bảo đảm quá trình đánh giá, xác định mục tiêu, lập kế hoạch và can thiệp phục hồi phù hợp với tình trạng của từng người bệnh.
Theo khoản 6 Điều 1 Thông tư 24/2021/TT-BYT, sửa đổi khoản 3 Điều 21 Thông tư 46/2013/TT-BYT, Giám đốc bệnh viện có trách nhiệm quy định việc phối hợp giữa khoa phục hồi chức năng hoặc trung tâm phục hồi chức năng với các khoa, phòng và đơn vị có liên quan trong bệnh viện. Đồng thời, việc phối hợp giữa các thành viên trong nhóm phục hồi chức năng phải bảo đảm phục vụ các hoạt động khám, chẩn đoán, lượng giá, xác định mục tiêu, lập kế hoạch, điều trị và can thiệp phục hồi chức năng có hiệu quả.
Nhóm phục hồi chức năng theo quy định gồm bác sĩ phục hồi chức năng làm trưởng nhóm, cùng các thành viên là bác sĩ điều trị của các khoa, phòng hoặc đơn vị có liên quan, kỹ thuật viên phục hồi chức năng, điều dưỡng và nhân viên công tác xã hội. Tùy tình trạng người bệnh, các thành viên có thể phối hợp những hoạt động như tâm lý trị liệu, hoạt động trị liệu, ngôn ngữ trị liệu và các kỹ thuật phục hồi chức năng khác thuộc phạm vi chuyên môn được phép thực hiện.
Đối với phục hồi chức năng tâm thần, sự phối hợp này có ý nghĩa đặc biệt vì mục tiêu phục hồi không chỉ tập trung vào triệu chứng bệnh mà còn hướng đến khả năng hoạt động, giao tiếp, sinh hoạt và thích nghi của người bệnh. Về tổ chức thực hiện, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải căn cứ vào nhân lực, cơ sở vật chất, trang thiết bị và phạm vi hoạt động chuyên môn để tổ chức hoạt động phục hồi chức năng. Cơ sở cũng có trách nhiệm bố trí đủ nhân lực và phân công đơn vị làm đầu mối phụ trách hoạt động phục hồi chức năng theo khoản 8 Điều 1 Thông tư 24/2021/TT-BYT. Như vậy, pháp luật không yêu cầu mọi người bệnh phải áp dụng đồng thời tất cả các kỹ thuật. Việc phối hợp được thực hiện căn cứ vào tình trạng bệnh, kết quả lượng giá, mục tiêu phục hồi và chuyên môn của từng thành viên trong nhóm, từ đó xây dựng và triển khai kế hoạch can thiệp phù hợp.
5. Việc ghi nhận quá trình và kết quả phục hồi chức năng tâm thần được quy định ra sao?
Quá trình phục hồi chức năng tâm thần phải được ghi nhận trong hồ sơ bệnh án của người bệnh, bảo đảm phản ánh đầy đủ quá trình khám, đánh giá, can thiệp và kết quả phục hồi. Đây là cơ sở để người hành nghề theo dõi diễn biến, điều chỉnh phương pháp và bảo đảm tính liên tục của quá trình điều trị. Theo Điều 69 Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2023, người bệnh điều trị nội trú, điều trị ban ngày và điều trị ngoại trú tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đều phải được lập và cập nhật hồ sơ bệnh án. Hồ sơ có thể được lập bằng giấy hoặc bản điện tử và có giá trị pháp lý như nhau. Hồ sơ bệnh án đồng thời phải được lưu giữ, bảo mật theo quy định pháp luật.
Về nội dung ghi chép, khoản 2 Điều 52 Thông tư 32/2023/TT-BYT yêu cầu việc ghi chép hồ sơ bệnh án phải chính xác, trung thực, đầy đủ, bao gồm thông tin về kết quả khám, cận lâm sàng, quá trình chẩn đoán, điều trị, chăm sóc và các thông tin liên quan trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh.
Đối với phục hồi chức năng tâm thần, việc ghi nhận cần phản ánh được những nội dung chuyên môn thực tế đã thực hiện, chẳng hạn như kết quả đánh giá tình trạng và nhu cầu phục hồi, mục tiêu phục hồi, kỹ thuật hoặc biện pháp can thiệp đã áp dụng, diễn biến của người bệnh và kết quả sau can thiệp. Khi tình trạng người bệnh thay đổi hoặc phương pháp phục hồi được điều chỉnh, những thay đổi này cũng cần được cập nhật trong hồ sơ để bảo đảm hồ sơ phản ánh đúng quá trình chuyên môn. Khi người bệnh kết thúc điều trị hoặc ra khỏi cơ sở, pháp luật yêu cầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoàn chỉnh hồ sơ bệnh án và thực hiện các thủ tục liên quan theo quy định.
IV. Giải đáp các thắc mắc thường gặp về danh mục kỹ thuật phục hồi chức năng tâm thần
Dưới đây là một số vấn đề thường phát sinh khi áp dụng Danh mục kỹ thuật phục hồi chức năng tâm thần trên thực tế.
1. Phục hồi chức năng tâm thần có chỉ áp dụng cho người bệnh đang điều trị tại cơ sở y tế không?
Phục hồi chức năng không chỉ áp dụng đối với người bệnh đang điều trị nội trú tại cơ sở y tế. Theo khoản 1 Điều 3 Thông tư 46/2013/TT-BYT (được sửa đổi bởi Khoản 2 Điều 1 Thông tư 24/2021/TT-BYT), phục hồi chức năng là tập hợp các can thiệp nhằm giúp người bệnh phát triển, đạt được và duy trì tối đa khả năng hoạt động, đồng thời phòng ngừa, giảm tình trạng khuyết tật phù hợp với môi trường sống của người bệnh.
Về hình thức thực hiện, pháp luật về phục hồi chức năng không giới hạn hoạt động này ở điều trị nội trú 24/24 giờ. Cơ sở phục hồi chức năng có thể thực hiện phục hồi chức năng theo các hình thức nội trú, ngoại trú và điều trị nội trú ban ngày. Đối với nội trú ban ngày, người bệnh không cần theo dõi, điều trị liên tục 24/24 giờ nhưng vẫn có thể được chỉ định phục hồi chức năng nếu đáp ứng điều kiện chuyên môn; tổng thời gian theo dõi, chăm sóc và thực hiện các phương pháp, kỹ thuật phục hồi chức năng tại cơ sở không dưới 4 giờ/ngày theo điểm b khoản 1 Điều 4a Thông tư 24/2021/TT-BYT. Vì vậy, người bệnh đã ổn định hoặc không cần điều trị nội trú vẫn có thể tiếp tục được phục hồi chức năng tâm thần dưới hình thức phù hợp, nếu có chỉ định chuyên môn và được thực hiện trong phạm vi hoạt động của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
2. Người bệnh đã ổn định có tiếp tục được áp dụng các kỹ thuật phục hồi chức năng tâm thần không?
Việc người bệnh đã ổn định về tình trạng bệnh không đồng nghĩa với việc phải chấm dứt ngay các hoạt động phục hồi chức năng tâm thần. Pháp luật xác định phục hồi chức năng nhằm giúp người bệnh phát triển, đạt được và duy trì tối đa khả năng hoạt động, đồng thời phòng ngừa và giảm khuyết tật phù hợp với môi trường sống.
Đặc biệt, điểm c khoản 1 Điều 68 Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2023 quy định các biện pháp phục hồi chức năng phải được thực hiện liên tục, toàn diện theo các giai đoạn tiến triển của bệnh tật. Do đó, khi người bệnh đã ổn định, việc tiếp tục áp dụng kỹ thuật phục hồi chức năng tâm thần vẫn có thể được thực hiện nếu người bệnh còn nhu cầu hoặc có chỉ định chuyên môn.
Trong thực tế, giai đoạn này có thể tập trung vào việc duy trì và củng cố khả năng đã đạt được, hạn chế tái phát hoặc suy giảm chức năng, đồng thời hỗ trợ người bệnh thích nghi và hòa nhập với môi trường sống. Các hoạt động có thể bao gồm tâm lý trị liệu, hoạt động trị liệu, rèn luyện kỹ năng giao tiếp, sinh hoạt và các kỹ thuật phục hồi khác phù hợp với tình trạng của từng người bệnh. Kết luận lại, người bệnh đã ổn định vẫn có thể tiếp tục được áp dụng các kỹ thuật phục hồi chức năng tâm thần nếu còn nhu cầu và phù hợp với đánh giá, chỉ định chuyên môn.
3. Các hoạt động rèn luyện kỹ năng sinh hoạt và giao tiếp có thuộc phạm vi phục hồi chức năng tâm thần không?
Các hoạt động rèn luyện kỹ năng sinh hoạt và giao tiếp có thể thuộc phạm vi phục hồi chức năng, trong đó có phục hồi chức năng tâm thần, nếu được thực hiện nhằm cải thiện hoặc duy trì khả năng hoạt động, giao tiếp, sinh hoạt và hòa nhập của người bệnh theo nhu cầu phục hồi. Cụ thể, khoản 18 Điều 2 Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2023 xác định phục hồi chức năng là tập hợp các can thiệp nhằm giúp người bệnh phát triển, đạt được và duy trì tối đa hoạt động chức năng, đồng thời phòng ngừa và giảm tình trạng khuyết tật phù hợp với môi trường sống.
Đáng chú ý, điểm b khoản 2 Điều 68 Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2023 quy định hoạt động phục hồi chức năng bao gồm việc sử dụng các kỹ thuật hoạt động trị liệu, ngôn ngữ trị liệu, tâm lý trị liệu và các biện pháp can thiệp khác. Đồng thời, điểm c khoản này ghi nhận việc tư vấn cho người bệnh và gia đình về phục hồi chức năng, tâm lý, giáo dục, hướng nghiệp và hòa nhập cộng đồng. Đối với kỹ năng sinh hoạt, hoạt động trị liệu có nội dung trực tiếp liên quan đến việc huấn luyện kỹ năng và tăng cường khả năng tham gia các hoạt động trong đời sống, sinh hoạt hằng ngày. Đối với kỹ năng giao tiếp, ngôn ngữ trị liệu bao gồm các hoạt động can thiệp đối với những vấn đề về giao tiếp, ngôn ngữ, lời nói, giọng nói, nhận thức và các chức năng liên quan. Vì vậy, rèn luyện kỹ năng sinh hoạt và giao tiếp có thể thuộc phạm vi phục hồi chức năng tâm thần, đặc biệt khi được tổ chức dưới hình thức hoạt động trị liệu, ngôn ngữ trị liệu hoặc các biện pháp can thiệp phù hợp nhằm duy trì, cải thiện chức năng và hỗ trợ người bệnh hòa nhập cộng đồng.
4. Người nhà có được tham gia vào quá trình phục hồi chức năng tâm thần của người bệnh không?
Người nhà có thể tham gia vào quá trình phục hồi chức năng tâm thần của người bệnh, đặc biệt trong việc phối hợp chăm sóc, hỗ trợ luyện tập và duy trì các kỹ năng đã được hướng dẫn. Cụ thể, điểm d khoản 1 Điều 68 Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2023 quy định hoạt động phục hồi chức năng phải có sự phối hợp giữa cơ sở khám bệnh, chữa bệnh với cá nhân, gia đình, cộng đồng và các cơ quan, tổ chức khác, đồng thời thực hiện phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng. Bên cạnh đó, điểm c khoản 2 Điều 68 quy định hoạt động phục hồi chức năng bao gồm việc tư vấn cho người bệnh và gia đình người bệnh về phục hồi chức năng, tâm lý, giáo dục, hướng nghiệp và hòa nhập cộng đồng.
Đối với phục hồi chức năng tâm thần, sự tham gia của gia đình có thể được thể hiện thông qua việc phối hợp với người hành nghề để hỗ trợ người bệnh thực hiện các kỹ năng sinh hoạt, giao tiếp, duy trì hành vi phù hợp và thích nghi với môi trường sống. Gia đình cũng có thể được hướng dẫn về cách hỗ trợ người bệnh sau khi kết thúc hoặc giảm cường độ can thiệp tại cơ sở y tế. Vì vậy, người nhà được tham gia vào quá trình phục hồi chức năng tâm thần, chủ yếu với vai trò phối hợp, hỗ trợ và thực hiện các hướng dẫn phục hồi trong đời sống hằng ngày; còn các kỹ thuật chuyên môn như tâm lý trị liệu phải do người có đủ điều kiện chuyên môn thực hiện theo quy định.
5. Có thể thay đổi phương pháp phục hồi chức năng khi người bệnh không đáp ứng với kỹ thuật đang áp dụng không?
Khi người bệnh không đáp ứng hoặc đáp ứng không phù hợp với kỹ thuật phục hồi chức năng tâm thần đang được áp dụng, phương pháp can thiệp có thể được đánh giá và điều chỉnh theo tình trạng thực tế của người bệnh. Tuy nhiên, việc thay đổi phải dựa trên đánh giá chuyên môn, không phải do người bệnh hoặc gia đình tự ý quyết định thay đổi kỹ thuật.
Theo điểm b và điểm c khoản 1 Điều 68 Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2023, hoạt động phục hồi chức năng phải đánh giá nhu cầu sử dụng các biện pháp can thiệp trong quá trình khám, điều trị; đồng thời các biện pháp can thiệp phải được thực hiện liên tục, toàn diện theo các giai đoạn tiến triển của bệnh tật. Vì vậy, khi tình trạng hoặc khả năng đáp ứng của người bệnh thay đổi, người hành nghề có thể đánh giá lại và điều chỉnh biện pháp phục hồi cho phù hợp.
Việc điều chỉnh có thể bao gồm thay đổi kỹ thuật, thay đổi cường độ hoặc mục tiêu phục hồi, kết hợp thêm phương pháp khác hoặc chuyển sang hình thức can thiệp phù hợp hơn. Đối với phục hồi chức năng tâm thần, tùy trường hợp có thể xem xét các kỹ thuật như tâm lý trị liệu, hoạt động trị liệu, ngôn ngữ trị liệu hoặc các biện pháp phục hồi khác thuộc phạm vi chuyên môn được phép thực hiện. Tuy nhiên, việc thay đổi phương pháp phải bảo đảm kỹ thuật được thực hiện đúng phạm vi hoạt động chuyên môn của cơ sở và phạm vi hành nghề của người thực hiện. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cũng phải bảo đảm nhân lực, cơ sở vật chất và trang thiết bị phù hợp để thực hiện hoạt động phục hồi chức năng.
V. NPLaw hỗ trợ giải đáp các vấn đề pháp lý liên quan đến danh mục kỹ thuật phục hồi chức năng tâm thần
Việc xác định đúng danh mục kỹ thuật phục hồi chức năng tâm thần có ý nghĩa quan trọng đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khi xây dựng phạm vi hoạt động chuyên môn và tổ chức cung cấp dịch vụ. NPLaw có thể hỗ trợ cơ sở y tế rà soát quy định pháp luật liên quan đến phạm vi hoạt động chuyên môn; đối chiếu danh mục kỹ thuật với điều kiện thực tế của cơ sở; tư vấn về hồ sơ, thủ tục xin phê duyệt hoặc điều chỉnh phạm vi hoạt động chuyên môn; đồng thời hỗ trợ giải quyết các vấn đề pháp lý phát sinh trong quá trình cung cấp dịch vụ phục hồi chức năng.
Vì vậy, việc rà soát pháp lý trước khi triển khai kỹ thuật phục hồi chức năng tâm thần sẽ giúp cơ sở hạn chế nguy cơ thực hiện kỹ thuật ngoài phạm vi chuyên môn được phê duyệt.
Trên đây là các thông tin mang tính tham khảo, Quý khách hàng cần tư vấn chi tiết về trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ cho Hãng luật NPLaw để được tư vấn ngay.