I. Rủi ro pháp lý phổ biến liên quan đến sử dụng thông tin khách hàng để quảng cáo

Sử dụng thông tin khách hàng để quảng cáo đang là bước đi của nhiều doanh nghiệp bởi tính hiệu quả và tác động của nó tới người tiêu dùng. Tuy nhiên, dữ liệu cá nhân là vấn đề nhạy cảm nên việc thiếu hiểu biết trong lĩnh vực này có thể kéo theo nhiều rủi ro pháp lý. 

Một số rủi ro pháp lý phổ biến liên quan đến sử dụng thông tin khách hàng để quảng cáo bao gồm: 

  • Sử dụng thông tin cá nhân của khách hàng (số điện thoại, email, hành vi mua sắm, sở thích,...) để gửi quảng cáo, tiếp thị trực tiếp mà chưa có sự đồng ý rõ ràng của khách hàng. 
  • Thu thập thông tin sai mục đích mà không thông báo hoặc không được khách hàng chấp thuận lại. 
  • Bị phạt do không thực hiện các biện pháp an ninh kỹ thuật cần thiết để bảo vệ thông tin, dẫn đến thông tin khách hàng bị lộ, bị đánh cắp, hoặc bị bán ra ngoài.

Trên đây là những rủi ro thường gặp khi sử dụng thông tin khách hàng để quảng cáo. Ngoài ra, tùy từng trường hợp cụ thể mà những rủi ro này có thể đa dạng và phức tạp hơn. 

II. Tìm hiểu về sử dụng thông tin khách hàng để quảng cáo

Trước khi tìm hiểu về các quy định pháp luật liên quan tới sử dụng thông tin khách hàng để quảng cáo, quý bạn đọc cần hiểu rõ định nghĩa, các loại thông tin và quyền của khách hàng trong vấn đề này. 

1. Sử dụng thông tin khách hàng để quảng cáo có nghĩa là gì?

Điều đầu tiên cần tìm hiểu là định nghĩa về sử dụng thông tin khách hàng để quảng cáo. Hiện nay không có quy định giải thích cụ thể về thuật ngữ này, điều này phần nào gây khó khăn cho các tổ chức, cá nhân muốn hiểu rõ các quy định liên quan. 

Tuy nhiên, căn cứ vào các quy định liên quan tại Luật Quảng cáo năm 2012, sửa đổi bởi Luật Quảng cáo năm 2025 và Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, có thể rút ra khái niệm sau: Sử dụng thông tin khách hàng để quảng cáo là việc sử dụng các dữ liệu cá nhân của khách hàng để thực hiện các hoạt động quảng cáo.

Trong đó, quảng cáo được hiểu là việc sử dụng các phương tiện nhằm giới thiệu đến công chúng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ có mục đích sinh lợi; sản phẩm, dịch vụ không có mục đích sinh lợi; tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ được giới thiệu, trừ tin thời sự; chính sách xã hội; thông tin cá nhân (khoản 1 Điều 2 Luật Quảng cáo năm 2012, sửa đổi bởi Luật Quảng cáo năm 2025). 

2. Có những loại thông tin nào của khách hàng thường được sử dụng để quảng cáo?

Căn cứ vào khoản 3 Điều 3 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 và khoản 3 Điều 2 Nghị định 13/2023/NĐ-CP, có thể liệt kê những loại thông tin của khách hàng thường được sử dụng để quảng cáo bao gồm: 

  • Thông tin cá nhân bao gồm: Họ, chữ đệm và tên khai sinh, tên gọi khác (nếu có); Ngày, tháng, năm sinh; ngày, tháng, năm chết hoặc mất tích; Giới tính;.... 
  • Thông tin về quá trình mua, sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của người tiêu dùng.
  • Thông tin khác liên quan đến giao dịch giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh.

Trên đây là những loại thông tin phổ biến thường được các tổ chức, cá nhân sử dụng trong hoạt động quảng cáo. Việc xác định được những loại thông tin này sẽ là cơ sở để bảo vệ dữ liệu bản thân. 

3. Khách hàng có quyền yêu cầu ngừng sử dụng thông tin của họ để quảng cáo không?

Một điều được nhiều người quan tâm khi cho phép sử dụng thông tin để quảng cáo là liệu có thể yêu cầu ngừng sử dụng thông tin này không? Câu trả lời là có. 

Theo đó, khoản 1 Điều 20 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 quy định “Người tiêu dùng có quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân kinh doanh thực hiện việc kiểm tra, chỉnh sửa, cập nhật, hủy bỏ, chuyển giao hoặc ngừng chuyển giao thông tin của mình cho bên thứ ba”. 

Đồng thời tại khoản 4 Điều 9 và Điều 12 Nghị định 13/2023/NĐ-CP, một trong các quyền của chủ thể dữ liệu là “Chủ thể dữ liệu được quyền rút lại sự đồng ý của mình, trừ trường hợp luật có quy định khác”. 

Như vậy, theo quy định hiện hành, khách hàng hoàn toàn có quyền yêu cầu ngừng sử dụng thông tin của họ để quảng cáo khi không còn nhu cầu cho phép sử dụng. 

4. Có sự khác biệt nào giữa sử dụng thông tin khách hàng để quảng cáo trực tiếp và gián tiếp không?

Việc sử dụng thông tin khách hàng để quảng cáo trực tiếp và gián tiếp có sự khác biệt rõ rệt qua các khía cạnh sau:

Tiêu chí

Quảng cáo trực tiếp 

Quảng cáo gián tiếp 

Cách thức 

Gửi tin nhắn, email, gọi điện thoại trực tiếp đến từng khách hàng. 

Sử dụng dữ liệu khách hàng để tạo hồ sơ, sau đó dùng hồ sơ này để nhắm mục tiêu trên nền tảng thứ ba (như facebook,..)

Đặc điểm 

Thường yêu cầu sự đồng ý rõ ràng của khách hàng để nhận tin/cuộc gọi tiếp thị, đặc biệt là với tin nhắn và email 

Cần có sự đồng ý của khách hàng về việc xử lý dữ liệu và chuyển giao dữ liệu cho bên thứ ba (nền tảng quảng cáo) để chạy quảng cáo. 

Việc sử dụng thông tin khách hàng để quảng cáo trực tiếp hay gián tiếp đều có những ưu, nhược điểm riêng. Việc sử dụng phương pháp nào hoàn toàn tùy thuộc vào nhu cầu chủ thể cũng như đặc trưng của từng giai đoạn phát triển. 

III. Các quy định pháp luật có liên quan đến sử dụng thông tin khách hàng để quảng cáo

Để quý bạn đọc hiểu rõ hơn về việc sử dụng thông tin khách hàng để quảng cáo, NPLaw sẽ cung cấp những quy định pháp luật hiện hành liên quan tới vấn đề này. 

1. Khi nào thì việc sử dụng thông tin khách hàng để quảng cáo được coi là hợp pháp?

Việc sử dụng thông tin khách hàng luôn tiềm ẩn những rủi ro pháp lý, do vậy, việc nắm rõ thời điểm sử dụng thông tin hợp pháp được xem là vấn đề có ý nghĩa quan trọng. 

Theo Điều 3 và Điều 9 Nghị định 13/2023/NĐ-CP, việc sử dụng thông tin khách hàng để quảng cáo được coi là hợp pháp khi: 

  • Có sự đồng ý của khách hàng: Khách hàng phải được thông báo rõ ràng, cụ thể về mục đích quảng cáo và đồng ý cho phép sử dụng thông tin của họ (khoản 2 Điều 3 và Khoản 1, 2 Điều 9). 
  • Đúng mục đích đã thông báo: Thông tin chỉ được sử dụng cho mục đích quảng cáo nếu mục đích này đã được thông báo cho khách hàng khi thu thập (khoản 3 Điều 3). 
  • Phạm vi thông tin thu thập phù hợp với mục đích sử dụng: Dữ liệu cá nhân được thu thập phải phù hợp và giới hạn trong phạm vi, mục đích cần xử lý (khoản 4 Điều 3).  
  • Đảm bảo các quyền khác của khách hàng: Ngoài ra, bên sử dụng thông tin phải đảm bảo các quyền rút lại sự đồng ý, quyền xóa dữ liệu và quyền hạn chế xử lý dữ liệu của khách hàng (khoản 4, 5, 6 Điều 9).

Tóm lại, khi khách hàng đồng ý với việc sử dụng thông tin và bên sử dụng đảm bảo sử dụng đúng mục đích, phù hợp phạm vi và đảm bảo các quyền khác của khách hàng thì việc sử dụng thông tin khách hàng để quảng cáo được coi là hợp pháp. 

2. Pháp luật Việt Nam quy định như thế nào về việc sử dụng thông tin khách hàng để quảng cáo?

Sử dụng thông tin khách hàng để quảng cáo là vấn đề liên quan tới nhiều lĩnh vực pháp luật. Do vậy, pháp luật Việt Nam hiện hành quy định về hành vi này trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau. Cụ thể: 

  • Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023: Điều 15 quy định về bảo vệ thông tin của người tiêu dùng; Điều 18 quy định về sử dụng thông tin của người tiêu dùng và Điều 19 quy định về bảo đảm an toàn, an ninh thông tin của người tiêu dùng. 
  • Nghị định 13/2023/NĐ-CP quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân: Điều 3 quy định về nguyên tắc bảo vệ dữ liệu cá nhân; Điều 9 quy định về quyền của chủ thể dữ liệu.
  • Nghị định 98/2020/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng: Điều 46 sửa đổi bởi Khoản 5 Điều 1 Nghị định 24/2025/NĐ-CP quy định về hành vi vi phạm về bảo vệ thông tin của người tiêu dùng. 

Trên đây là những quy định liên quan tới việc sử dụng thông tin khách hàng để quảng cáo. Trên thực tế, tùy theo từng trường hợp mà tổ chức, cá nhân cần áp dụng các quy định cụ thể để bảo vệ tốt nhất quyền lợi của mình. 

3. Có quy định nào yêu cầu doanh nghiệp phải xin phép trước khi sử dụng thông tin khách hàng để quảng cáo không?

Để đảm bảo tốt hơn quyền của người tiêu dùng, pháp luật hiện hành đã ghi nhận về việc doanh nghiệp phải xin phép trước khi sử dụng thông tin khách hàng để quảng cáo. 

Theo đó, Khoản 2 Điều 3 Nghị định 13/2023/NĐ-CP quy định một trong các nguyên tắc bảo vệ dữ liệu cá nhân là “Chủ thể dữ liệu được biết về hoạt động liên quan tới xử lý dữ liệu cá nhân của mình, trừ trường hợp luật có quy định khác”. 

Đồng thời, khoản 2 Điều 15 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 cũng quy định “Trường hợp tổ chức, cá nhân kinh doanh ủy quyền hoặc thuê bên thứ ba thực hiện việc thu thập, lưu trữ, sử dụng, chỉnh sửa, cập nhật, hủy bỏ thông tin của người tiêu dùng thi phải được sự đồng ý của người tiêu dùng. Việc ủy quyền hoặc thuê bên thứ ba phải được thực hiện bằng văn bản, trong đó quy định rõ phạm vi, trách nhiệm của mỗi bên trong việc bảo vệ thông tin của người tiêu dùng theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan”. 

Như vậy, để việc sử dụng thông tin khách hàng quảng cáo trở nên hợp pháp, trước hết, doanh nghiệp phải xin phép khách hàng. 

4. Việc sử dụng thông tin khách hàng để quảng cáo có thể bị phạt nếu vi phạm quy định pháp luật không?

Khi tìm hiểu về vấn đề này, câu hỏi được nhiều người quan tâm là việc sử dụng thông tin khách hàng để quảng cáo có thể bị phạt nếu vi phạm quy định pháp luật không. Câu trả lời là có. 

Theo Điều 46 Nghị định 98/2020/NĐ-CP được sửa đổi bởi Khoản 5 Điều 1 Nghị định 24/2025/NĐ-CP, hành vi vi phạm về việc sử dụng thông tin khách hàng để quảng cáo được xử lý như sau: 

  • Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm: Không thông báo hoặc thông báo với người tiêu dùng về mục đích, phạm vi thu thập, sử dụng thông tin, thời hạn lưu trữ thông tin của người tiêu dùng trước khi thực hiện thu thập, sử dụng thông tin của người tiêu dùng không đúng quy định; thực hiện thu thập, sử dụng thông tin của người tiêu dùng khi chưa được người tiêu dùng đồng ý theo quy định…. (Khoản 1 Điều 46). 
  • Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau: Không có biện pháp bảo đảm an toàn, an ninh thông tin của người tiêu dùng khi thu thập, lưu trữ, sử dụng hoặc không có biện pháp ngăn ngừa các hành vi vi phạm an toàn, an ninh thông tin của người tiêu dùng… (Khoản 2 Điều 46). 
  • Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng với hành vi vi phạm thuộc hai trường hợp trên nhưng thông tin có liên quan là dữ liệu cá nhân nhạy cảm của người tiêu dùng. 
  • Phạt tiền từ 80.000.000 đến 160.000.000 đồng với hành vi vi phạm thuộc hai trường hợp trên nhưng do tổ chức thiết lập, vận hành nền tảng số lớn thực hiện. 

Việc đặt ra quy định xử phạt đối với các hành vi vi phạm trong sử dụng thông tin khách hàng để quảng cáo thể hiện sự răn đe của Nhà nước đối với tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm và cũng là cơ sở để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng. 

5. Những vi phạm nào thường xảy ra khi sử dụng thông tin khách hàng để quảng cáo?

Căn cứ vào khoản 1 Điều 46 Nghị định 98/2020/NĐ-CP, được sửa đổi bởi Khoản 5 Điều 1 Nghị định 24/2025/NĐ-CP, có thể liệt kê một số vi phạm thường xảy ra khi sử dụng thông tin khách hàng để quảng cáo như sau: 

  • Ủy quyền hoặc thuê bên thứ ba thực hiện việc thu thập, lưu trữ, sử dụng, chỉnh sửa, cập nhật, hủy bỏ thông tin của người tiêu dùng nhưng chưa được sự đồng ý của người tiêu dùng (điểm c khoản 1). 
  • Không xây dựng hoặc xây dựng quy tắc bảo vệ thông tin áp dụng chung cho người tiêu dùng không đầy đủ (điểm d khoản 1). 
  • Không thông báo hoặc thông báo với người tiêu dùng về mục đích, phạm vi thu thập, sử dụng thông tin, thời hạn lưu trữ thông tin của người tiêu dùng trước khi thực hiện thu thập, sử dụng thông tin của người tiêu dùng không đúng quy định (điểm g khoản 1). 
  • Thực hiện thu thập, sử dụng thông tin của người tiêu dùng khi chưa được người tiêu dùng đồng ý theo quy định, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác (điểm h khoản 1). 
  • Không thiết lập phương thức để người tiêu dùng lựa chọn phạm vi thông tin đồng ý cung cấp và bày tỏ sự đồng ý hoặc không đồng ý (điểm i khoản 1). 
  • Không thông báo lại cho người tiêu dùng trước khi thay đổi mục đích, phạm vi sử dụng thông tin đã thông báo cho người tiêu dùng hoặc thay đổi mục đích, phạm vi sử dụng thông tin đã thông báo cho người tiêu dùng khi chưa được người tiêu dùng đồng ý (điểm k khoản 1). 
  • Sử dụng thông tin của người tiêu dùng không chính xác, không phù hợp với mục đích, phạm vi đã thông báo (điểm l khoản 1). 
  • Không có biện pháp bảo đảm an toàn, an ninh thông tin của người tiêu dùng khi thu thập, lưu trữ, sử dụng hoặc không có biện pháp ngăn ngừa các hành vi vi phạm an toàn, an ninh thông tin của người tiêu dùng theo quy định (điểm c khoản 2). 
  • Chuyển giao thông tin của người tiêu dùng cho bên thứ ba khi chưa có sự đồng ý của người tiêu dùng theo quy định (điểm d khoản 2).

Việc nắm rõ các vi phạm thường gặp trong sử dụng thông tin khách hàng để quảng cáo sẽ là nền tảng để người tiêu dùng bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình. 

IV. Các thắc mắc thường gặp liên quan đến sử dụng thông tin khách hàng để quảng cáo

Dưới đây là giải đáp của NPLaw về những thắc mắc thường gặp liên quan đến sử dụng thông tin khách hàng để quảng cáo  

1. Trong trường hợp nào thì doanh nghiệp có thể sử dụng thông tin khách hàng để quảng cáo mà không cần xin phép?

Theo Điều 17 Nghị định 13/2023/NĐ-CP, doanh nghiệp có thể sử dụng thông tin khách hàng để quảng cáo mà không cần xin phép trong các trường hợp sau: 

  • Trong trường hợp khẩn cấp, cần xử lý ngay dữ liệu cá nhân có liên quan để bảo vệ tính mạng, sức khỏe của chủ thể dữ liệu hoặc người khác (khoản 1). 
  • Việc công khai dữ liệu cá nhân theo quy định của luật (khoản 2). 
  • Để thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng của chủ thể dữ liệu với cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan theo quy định của luật (khoản 4). 

Khi thuộc một trong các trường hợp trên, doanh nghiệp có thể sử dụng thông tin khách hàng để quảng cáo mà không cần phụ thuộc vào sự đồng ý của khách hàng. 

2. Những biện pháp nào cần thực hiện để bảo vệ thông tin khách hàng khi sử dụng cho mục đích quảng cáo?

Theo khoản 2 Điều 26 Nghị định 13/2023/NĐ-CP, để bảo vệ thông tin khách hàng khi sử dụng cho mục đích quảng cáo, các biện pháp bảo vệ bao gồm: 

  • Biện pháp quản lý do tổ chức, cá nhân có liên quan tới xử lý dữ liệu cá nhân thực hiện. 
  • Biện pháp kỹ thuật do tổ chức, cá nhân có liên quan tới xử lý dữ liệu cá nhân thực hiện. 
  • Biện pháp do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Nghị định này và pháp luật có liên quan.
  • Biện pháp điều tra, tố tụng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện.
  • Các biện pháp khác theo quy định của pháp luật.

Tóm lại, để bảo vệ thông tin của khách hàng cần sự phối hợp của nhiều bên liên quan trong việc thực hiện các biện pháp phù hợp. 

3. Các hình thức xử phạt nào có thể áp dụng nếu doanh nghiệp vi phạm quy định khi sử dụng thông tin khách hàng để quảng cáo?

Trường hợp doanh nghiệp vi phạm quy định khi sử dụng thông tin khách hàng để quảng cáo, có thể áp dụng các hình thức xử phạt sau: 

  • Phạt tiền hành chính: Phạt tiền từ 20 - 160 triệu đồng tùy theo hành vi cụ thể của doanh nghiệp (Điều 46 Nghị định 98/2020/NĐ-CP, được sửa đổi bởi Khoản 5 Điều 1 Nghị định 24/2025/NĐ-CP). 
  • Bồi thường thiệt hại: Trường hợp việc vi phạm gây ra thiệt hại cho khách hàng thì doanh nghiệp còn phải đối diện với trách nhiệm bồi thường thiệt hại (Điều 584 Bộ Luật Dân sự năm 2015). 
  • Trách nhiệm hình sự: Theo Bộ Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung bởi Bộ Luật Hình sự năm 2017, doanh nghiệp sử dụng thông tin khách hàng để quảng cáo sai quy định còn có thể cấu thành tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác (Điều 159) hoặc tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông (Điều 288).  

Như vậy, khi vi phạm quy định về sử dụng thông tin khách hàng để quảng cáo, doanh nghiệp có thể phải chịu xử phạt hành chính, trách nhiệm bồi thường thiệt hại hoặc thậm chí chịu trách nhiệm hình sự. 

4. Trong trường hợp thông tin khách hàng được sử dụng sai mục đích trong quảng cáo, khách hàng có thể yêu cầu bồi thường không?

Có. Theo Điều 10 Nghị định 13/2023/NĐ-CP thì một trong những quyền của chủ thể dữ liệu là “yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật khi xảy ra vi phạm quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân của mình, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác”. 

Do vậy, trong trường hợp bên vi phạm cố tình sử dụng thông tin khách hàng sai mục đích trong quảng cáo gây ra thiệt hại cho khách hàng thì có thể yêu cầu bồi thường. 

5. Những loại hình quảng cáo nào sẽ vi phạm pháp luật khi sử dụng thông tin khách hàng?

Căn cứ vào Điều 8 Luật Quảng cáo năm 2012 sửa đổi bởi Luật Quảng cáo năm 2025, có thể kể tên một số loại hình quảng cáo vi phạm pháp luật khi sử dụng thông tin khách hàng là: 

  • Quảng cáo có sử dụng hình ảnh, lời nói, chữ viết của cá nhân khi chưa được cá nhân đó đồng ý, trừ trường hợp được pháp luật cho phép. 
  • Quảng cáo xúc phạm uy tín, danh dự, nhân phẩm của tổ chức, cá nhân.

Ngoài ra, với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ hiện nay, các loại hình quảng cáo có nguy cơ vi phạm pháp luật khi sử dụng thông tin khách hàng cũng ngày càng đa dạng. 

V. Bạn đang tìm luật sư giỏi, uy tín để hỗ trợ vấn đề liên quan đến sử dụng thông tin khách hàng để quảng cáo?

Nếu bạn đang cần thiết lập hệ thống tuân thủ pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hoạt động quảng cáo, hoặc bạn là khách hàng/tổ chức cần giải quyết tranh chấp liên quan đến việc lạm dụng thông tin cá nhân, việc tìm luật sư chuyên về Luật Công nghệ thông tin, Bảo vệ dữ liệu cá nhân và Thương mại điện tử là cần thiết. 

NPLaw, hiện đang là đối tác pháp lý đáng tin cậy với nhiều tổ chức, cá nhân khi có nhu cầu hỗ trợ vấn đề liên quan đến sử dụng thông tin khách hàng để quảng cáo bởi chi phí phù hợp và đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm. 

Trên đây là các thông tin mang tính tham khảo, Quý khách hàng cần tư vấn chi tiết về trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ cho Hãng luật NPLaw để được tư vấn ngay.