Hành vi mượn tiền không chỉ là một khái niệm đơn thuần về quá trình vay mượn, mà còn là một thực tế đan xen với những quy định chặt chẽ của pháp luật. Trong môi trường kinh tế biến động hiện nay, việc hiểu rõ về các quy định liên quan đến vay mượn tiền là chìa khóa quan trọng để duy trì sự ổn định và bền vững trong quản lý tài chính. Đối mặt với sự đa dạng ngày càng tăng về các hình thức vay vốn, việc tuân thủ đúng quy định pháp luật không chỉ là trách nhiệm của cá nhân và doanh nghiệp mà còn là yếu tố quyết định đến sự minh bạch và an toàn trong các giao dịch tài chính.
Vậy thực trạng hành vi mượn tiền không trả hiện nay như thế nào? Pháp luật hiện hành quy định thế nào về việc hành vi mượn tiền? Những thắc mắc nào thường gặp liên quan đến hành vi mượn tiền?

Để giải đáp vướng mắc này, NPLaw xin gửi tới Quý độc giả thông tin dưới bài viết sau:
I. Thực trạng về hành vi mượn tiền không trả
1. Như thế nào được gọi là hành vi mượn tiền?
"Hành vi mượn tiền" thường được hiểu là hành động của người mượn khi họ sử dụng hoặc vay một số tiền từ người hoặc tổ chức khác nhau. Điều này có thể bao gồm việc vay mượn tiền mặt, sử dụng thẻ tín dụng, hay tham gia các hợp đồng vay nợ khác nhau.
Hành vi mượn tiền thường đi kèm với trách nhiệm trả nợ vào thời điểm sau đó, theo các điều kiện và điều khoản đã thỏa thuận trước đó. Có nhiều hình thức mượn tiền, bao gồm vay mượn cá nhân từ người thân, vay mượn từ ngân hàng, sử dụng thẻ tín dụng, hay tham gia các chương trình vay mượn của tổ chức tín dụng.
Hành vi mượn tiền cũng có thể đánh giá dựa trên khả năng trả nợ, quản lý tài chính cá nhân, và tư duy về việc sử dụng nguồn tiền vay. Nếu được thực hiện một cách có trách nhiệm và khôn ngoan, việc mượn tiền có thể giúp mọi người thực hiện các dự án lớn, đầu tư vào giáo dục, hay quản lý tình hình tài chính cá nhân. Tuy nhiên, nếu không quản lý cẩn thận, hành vi mượn tiền cũng có thể dẫn đến tình trạng nợ nần và khó khăn tài chính.
2. Thực trạng về hành vi mượn tiền không trả
Thực trạng về hành vi mượn tiền không trả là một vấn đề phổ biến và có thể đa dạng ở nhiều quốc gia trên thế giới. Dưới đây là một số điểm nhấn về tình trạng này:
- Nợ xấu và quản lý nợ: Trong nhiều nền kinh tế, có nhiều trường hợp người vay không thể trả nợ đúng hạn, dẫn đến tình trạng nợ xấu. Bên cạnh đó, các tổ chức tín dụng và ngân hàng thường phải đối mặt với rủi ro nợ xấu, và họ thực hiện các biện pháp để quản lý rủi ro này.
- Nợ tiêu dùng: Nợ tiêu dùng, bao gồm cả nợ thẻ tín dụng và các khoản vay cá nhân, thường tăng lên trong một số nền kinh tế. Người tiêu dùng có thể mắc kẹt trong chuỗi nợ khi không thể trả nợ và phải đối mặt với lãi suất cao.
- Hậu quả xã hội: Tình trạng nợ nhiều có thể gây hậu quả xã hội, như tăng tỷ lệ nợ xấu, ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần, và làm gia tăng gánh nặng cho hệ thống chăm sóc y tế và xã hội.
- Công nghệ và hành vi mượn tiền: Sự phổ biến của các dịch vụ tài chính trực tuyến và ứng dụng di động có thể tạo điều kiện thuận lợi cho việc mượn tiền, nhưng đồng thời cũng có thể tăng nguy cơ về tình trạng nợ nhiều nếu không quản lý cẩn thận.
Tóm lại, việc mượn tiền không trả đòi hỏi sự cẩn trọng và quản lý thông tin đúng đắn từ cả bên người vay và các tổ chức tài chính để giảm thiểu rủi ro và tác động tiêu cực đối với cá nhân và xã hội.
II. Quy định pháp luật về việc liên quan đến hành vi mượn tiền
1. Vay mượn có ký hợp đồng
Căn cứ theo quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự năm (BLDS) 2015, hợp đồng vay tiền là loại hợp đồng có nội dung là sự thỏa thuận của các bên về việc một bên (bên cho vay) cho bên kia (bên vay) vay một số tiền nhất định, đồng thời bên vay sẽ phải trả lãi cho bên cho vay nếu hai bên thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác.
Mặt khác, nghĩa vụ trả nợ cũng được quy định chi tiết tại Điều 466 BLDS 2015 như sau:
- Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn;
- Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thoả thuận khác;
- Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của BLDS 2015 trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc luật có quy định khác;
- Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:
+ Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;
+ Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

Về lãi suất trong hợp đồng vay mượn tiền thì được quy định cụ thể tại Điều 468 BLDS 2015 như sau:
- Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.
+ Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác.
+ Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.
- Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 tại thời điểm trả nợ
2. Vay mượn không ký hợp đồng
Cho vay tiền là một trong những giao dịch dân sự phổ biến. Theo quy định tại khoản 1 Điều 119 BLDS 2015 về hình thức của giao dịch dân sự như sau: Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể. Trường hợp giao dịch dân sự mà không có hợp đồng, thay vào đó có thể là thông thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản hoặc thông qua lời nói miệng được coi là giao dịch bằng lời nói.
Như vậy, trong pháp luật không quy định bắt buộc hình thức của hợp đồng vay tài sản phải thể hiện bằng văn bản. Hợp đồng vay mượn tiền được công nhận cả ở ba hình thức là bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể. Cho nên, dù vay mượn tiền mà không ký hợp đồng thì bên vay tiền vẫn phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ được quy định tại Điều 466 BLDS 2015.
3. Vay mượn tiền không trả có cấu thành tội phạm không?
Trả nợ khi đã đến hạn là nghĩa vụ của người đi vay theo quy định tại Điều 466 BLDS 2015 đã nêu trên. Nếu đã đến hạn trả nợ nhưng bên vay không trả thì sẽ xảy ra 2 trường hợp dưới đây:
Trường hợp 1: Bên vay không trả được nợ do không có khả năng trả nợ và không có dấu hiệu bỏ trốn hoặc dùng thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản thì sẽ là tranh chấp dân sự. Để có thể lấy lại tiền, người cho vay có thể tới Tòa án nhân dân cấp quận/huyện để tiến hành thủ tục kiện đòi lại tài sản.
Trường hợp 2: Bên vay có khả năng trả được nợ nhưng không muốn trả thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự khi đủ yếu tố cấu thành tội phạm của một trong các tội danh đã được quy định, cụ thể là:
- Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản: căn cứ theo quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự (BLHS) 2015 thì hành vi cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là việc một người bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác
- Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản: căn cứ theo quy định tại Điều 175 BLHS 2015 quy định về các hành vi cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau:
+ Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;
+ Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.
Như vậy, đối với hành vi mượn tiền không trả có thể cấu thành tội phạm bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự khi đủ yếu tố cấu thành tội phạm của một trong các tội danh đã được quy định như trên.
III. Giải đáp các thắc mắc thường gặp liên quan đến hành vi mượn tiền
Các vướng mắc thường gặp cần được giải đáp liên quan đến hành vi mượn tiền dưới đây:
1. Hành vi vay mượn tiền không trả bị xử lý như thế nào?
Như đã nêu ở trên, hành vi mượn tiền mà không trả có xảy ra 2 trường hợp như trên.
Trong trường hợp 1, bên cho vay phải khởi kiện tại tòa án có thẩm quyền để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự. Tòa án sẽ ra phán quyết xác định số tiền nợ và thời hạn trả nợ. Hai bên có thể tự nguyện thỏa thuận về phương thức trả nợ dựa trên phán quyết (tự nguyện thi hành). Nếu bên vay tiền không tuân thủ tự nguyện thi hành phán quyết, bên cho vay tiền có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án thực hiện cưỡng chế thi hành phán quyết.
Trong trường hợp 2, bên vay có khả năng trả được nợ nhưng không muốn trả thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (theo Điều 174 BLHS 2015) hoặc tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (theo Điều 175 BLHS 2015) đã nêu cụ thể ở trên.
2. Cho mượn tiền không trả thì phải làm gì để lấy lại tiền đúng luật
Trong nhiều trường hợp cho mượn tiền nhưng không trả, có thể là trường hợp không còn khả năng chi trả khoản nợ hoặc muốn lẩn tránh không muốn trả nợ, tuy nhiên trong mọi hoàn cảnh, không nên thuê "xã hội đen" hoặc đe dọa, sử dụng vũ lực để đòi nợ. Việc này khiến chủ nợ "đang đúng thành sai" và có thể bị xử lý về các hành vi Cưỡng đoạt tài sản, Cướp tài sản, Cố ý gây thương tích. Thay vào đó, người cho vay có thể dùng những cách hợp pháp để đòi tiền.

- Phương án 1, chủ nợ nên tìm gặp, nói chuyện để yêu cầu đối phương trả nợ đúng hạn hoặc "cơ cấu nợ", thậm chí cho vay thêm nhưng yêu cầu có tài sản thế chấp. Cụ thể, bên cho vay cho bên nợ vay tín chấp 1 tỷ đồng nhưng do công ty của bên nợ làm ăn thua lỗ, không thể trả, chỉ còn căn nhà giá 2,5 tỷ đồng. Khi đó, bên cho vay có thể cho vay thêm 1,5 tỷ đồng nếu bên nợ chịu thế chấp căn nhà này.
- Phương án 2, nếu người vay có dấu hiệu trốn tránh, chủ nợ cần chuẩn bị hồ sơ khởi kiện họ ra cơ quan điều tra về hành vi quỵt nợ. Hồ sơ khởi kiện gồm:
+ Đơn khởi kiện: tham khảo tại Điều 189 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015 hoặc Nghị quyết 01/2017/NQ-HĐTP;
+ Tài liệu, chứng cứ chứng minh việc khởi kiện có căn cứ và hợp pháp: là hợp đồng vay tiền bằng văn bản. Trong trường hợp sử dụng hợp đồng miệng, phải có video quay lại quá trình cho vay, hoặc nhân chứng, hoặc sao kê giao dịch;
+ Bản sao công chứng giấy tờ pháp lý cá nhân của người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
+ Các tài liệu khác nộp kèm theo đơn kiện
Đối với tranh chấp hợp đồng vay tài sản, nơi có thẩm quyền thụ án là Tòa án nhân dân cấp quận/huyện nơi người vay tiền cư trú.
- Phương án 3, việc kiện ra tòa trong vụ án dân sự là phương án tiếp theo nên được áp dụng nếu người vay không có dấu hiệu phạm tội. Tòa án sẽ ban hành quyết định hoặc bản án buộc người vay trả cả tiền gốc và lãi.
3. Mượn tiền không trả có phải chịu trách nhiệm hình sự không?
Bên vay có khả năng trả được nợ nhưng không muốn trả thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự khi đủ yếu tố cấu thành tội phạm của một trong các tội danh đã được quy định, cụ thể là tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Với những tội danh trên, người phạm tội có thể bị phạt tù cao nhất lên đến 20 năm, phạt tiền lên đến 100 triệu.
4. Làm thế nào để kiện đòi nợ bạn bè mượn tiền không trả?
Đối với trường hợp bạn bè mượn tiền không chịu trả, người cho vay có thể khởi kiện đòi tài sản ra Tòa án nhân dân cấp quận/huyện.
Những yêu cầu chung trong việc đòi lại tài sản đối với người cho vay (nguyên đơn):
Người kiện đòi lại tài sản phải là chủ sở hữu đối với tài sản đó và cần phải chứng minh quyền sở hữu của mình đối với tài sản đang bị bị đơn (người bạn mượn tiền không trả) chiếm giữ bất hợp pháp theo đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn cũng có thể là người có quyền khác đối với tài sản thông qua những căn cứ xác lập quyền được pháp luật quy định cụ thể.
Người cho vay cần chuẩn bị được các loại tài liệu sau:
- Hợp đồng vay tiền đã thỏa thuận: là hợp đồng vay tiền bằng văn bản. Trong trường hợp sử dụng hợp đồng miệng, phải có video quay lại quá trình cho vay, hoặc nhân chứng, hoặc sao kê giao dịch;
- Các loại tài liệu chứng minh nhân thân trong quá trình khởi kiện của người bị xâm phạm về tài sản: chứng minh nhân dân của người khởi kiện, của các đương sự trong vụ việc và các đối tượng liên quan khác;
- Các tài liệu kèm theo chứng minh việc đã đòi tiền mà bạn bè không trả
Bên cạnh đó, người cho vay cần chuẩn bị Đơn khởi kiện (tham khảo tại Điều 189 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015 hoặc Nghị quyết 01/2017/NQ-HĐTP) trong đó chỉ rõ yêu cầu kiện đòi tiền.
Lưu ý: Trường hợp nộp đơn khởi kiện, người nộp đơn sẽ phải nộp tiền tạm ứng án phí dựa trên số tiền tranh chấp; mức tạm ứng án phí được quy định bằng 50% mức án phí phải nộp, theo quy định của Ủy ban thường vụ quốc hội tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 thì tranh chấp tài sản có giá trị từ trên 6 triệu đồng đến 400 triệu đồng thì án phí là 5% và giữ lại biên lai đã nộp lệ phí hoặc tiền tạm ứng án phí theo đúng quy định pháp luật.
Sau khi đã chuẩn bị đầy đủ các loại tài liệu và đơn khởi kiện ở trên, bên cho vay có thể nộp đơn kiện trực tiếp hoặc gửi theo đường bưu điện đến Tòa án nhân dân cấp quận/huyện nơi bạn bè vay tiền cư trú, làm việc.
5. Mượn tiền giùm bạn rồi bạn không trả thì mình có gánh nợ không?
Hành vi đứng tên mượn tiền dùm bạn tức là người A thực hiện giao dịch với bên cho vay để vay tiền, nhưng số tiền này người A không sử dụng mà người B (bạn của A) sử dụng, về mặt pháp lý thì người A có nghĩa vụ trả tiền cho bên cho vay.
Trường hợp nếu chỉ cung cấp thông tin cho phía ngân hàng về người muốn vay tiền (là người B) và xác nhận quan hệ bạn bè thân thiết với người đó mà không ký kết hay tham gia vào quá trình thỏa thuận hợp đồng của 2 bên thì khi người B không trả tiền thì người A không phải chịu trách nhiệm gì. Vì đó không phải là hành vi đứng tên để vay tiền mà là cung cấp thông tin về người cần liên lạc với người B.
Tuy nhiên, trong trường hợp người đứng ra mượn tiền hộ (người A) là người ký tên trên hợp đồng vay tiền lại là một chuyện khác. Về nguyên tắc, khi một người tự nguyện ký tên vào hợp đồng vay tiền giúp người khác và người đó có đủ năng lực hành vi dân sự, mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội thì giao dịch dân sự đó có hiệu lực. Vì vậy khi đến hạn, người đứng tên trên hợp đồng phải có nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi (nếu có).