Chia tài sản thuộc sở hữu chung là một vấn đề phức tạp và nhạy cảm mà nhiều người phải đối mặt trong cuộc sống. Dù là trong bối cảnh ly hôn, giải quyết di sản sau khi một người thân qua đời, hay thậm chí là giữa các đối tác kinh doanh, việc phân chia tài sản đòi hỏi sự cẩn trọng, công bằng và minh bạch. Điều này không chỉ liên quan đến giá trị vật chất, mà còn đến các mối quan hệ, cảm xúc và quyền lợi của mỗi bên liên quan.
Căn cứ Điều 207 Bộ luật Dân sự 2015 quy định sở hữu chung là sở hữu của nhiều chủ sở hữu đối với tài sản. Sở hữu chung bao gồm sở hữu chung theo phần và sở hữu chung hợp nhất. Tài sản thuộc hình thức sở hữu chung là tài sản chung.
Tài sản thuộc sở hữu chung là tài sản mà hai hoặc nhiều cá nhân hoặc tổ chức cùng sở hữu. Việc chia tài sản thuộc sở hữu chung nghĩa là việc phân chia tài sản đó dựa trên các thỏa thuận hoặc quy định của pháp luật.
Dưới đây là quy định pháp luật về chia tài sản thuộc sở hữu chung như sau:
Theo quy định tại Điều 219 Bộ luật Dân sự 2015 về chia tài sản thuộc sở hữu chung thì:
- Trường hợp sở hữu chung có thể phân chia thì mỗi chủ sở hữu chung đều có quyền yêu cầu chia tài sản chung; nếu tình trạng sở hữu chung phải được duy trì trong một thời hạn theo thỏa thuận của các chủ sở hữu chung hoặc theo quy định của luật thì mỗi chủ sở hữu chung chỉ có quyền yêu cầu chia tài sản chung khi hết thời hạn đó; khi tài sản chung không thể chia được bằng hiện vật thì chủ sở hữu chung có yêu cầu chia có quyền bán phần quyền sở hữu của mình, trừ trường hợp các chủ sở hữu chung có thỏa thuận khác.
- Trường hợp có người yêu cầu một người trong số các chủ sở hữu chung thực hiện nghĩa vụ thanh toán và chủ sở hữu chung đó không có tài sản riêng hoặc tài sản riêng không đủ để thanh toán thì người yêu cầu có quyền yêu cầu chia tài sản chung và tham gia vào việc chia tài sản chung, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Nếu không thể chia phần quyền sở hữu bằng hiện vật hoặc việc chia này bị các chủ sở hữu chung còn lại phản đối thì người có quyền có quyền yêu cầu người có nghĩa vụ bán phần quyền sở hữu của mình để thực hiện nghĩa vụ thanh toán.
Theo quy định tại Điều 219 Bộ luật Dân sự 2015, những đối tượng được quyền yêu cầu chia tài sản thuộc sở hữu chung bao gồm:
- Mỗi chủ sở hữu chung đều có quyền yêu cầu chia tài sản chung, trừ trường hợp phải duy trì tình trạng sở hữu chung trong một thời hạn nhất định.
- Người có quyền đòi một chủ sở hữu chung phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán nhưng người đó không có đủ tài sản riêng để thực hiện nghĩa vụ.
- Người thừa kế quyền sở hữu chung của người để lại di sản.
- Người được chủ sở hữu chung ủy quyền yêu cầu chia tài sản chung.
- Các chủ thể khác theo quy định của pháp luật.
Như vậy, cả chủ sở hữu chung lẫn người có quyền lợi liên quan đến tài sản chung đều có thể yêu cầu chia tài sản chung trong các trường hợp pháp luật quy định.
Theo quy định tại Điều 220 Bộ luật Dân sự 2015 về chấm dứt sở hữu chung thì sở hữu chung chấm dứt trong trường hợp sau đây:
- Tài sản chung đã được chia.
- Một trong số các chủ sở hữu chung được hưởng toàn bộ tài sản chung.
- Tài sản chung không còn.
- Trường hợp khác theo quy định của luật.
Căn cứ Điều 38 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân như sau:
- Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014;
- Nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.
Như vậy, nguyên tắc chung là trong thời kỳ hôn nhân, vợ hoặc chồng được quyền yêu cầu Tòa án chia tài sản chung của vợ chồng.
Căn cứ theo quy định tại Điều 43 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 thì:
- Tài sản riêng của mỗi bên là tài sản đã có trước khi kết hôn hoặc được hưởng di sản, quà tặng trong thời kỳ hôn nhân.
- Tài sản riêng của mỗi bên không phải chia khi ly hôn.
Như vậy, các kỷ vật mà vợ hoặc chồng nhận được từ di sản thừa kế trong thời kỳ hôn nhân là tài sản riêng, không phải chia khi ly hôn. Vợ hoặc chồng được tiếp tục sở hữu các tài sản thừa kế đó sau khi ly hôn, không bị yêu cầu phân chia.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 21 Thông tư 111/2013/TT-BTC, thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản được xác định là thu nhập từ việc chuyển quyền sở hữu, sử dụng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất ở. Thu nhập từ phân chia tài sản thuộc sở hữu chung là bất động sản cũng được coi là thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản.
Căn cứ theo đó, trường hợp cá nhân phân chia tài sản thuộc sở hữu chung là bất động sản thì phải nộp thuế thu nhập cá nhân theo quy định. Mức thuế suất áp dụng là 2% trên giá trị chuyển nhượng.
Hiện nay pháp luật chưa quy định công chứng hợp đồng, giao dịch, việc chia tài sản thuộc sở hữu chung của thành viên trong gia đình không bắt buộc phải công chứng. Các thành viên trong gia đình có thể tự thỏa thuận với nhau về phương án chia tài sản chung mà không nhất thiết phải làm thủ tục công chứng hợp đồng chia tài sản.
Tuy nhiên, nếu các bên muốn bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì có thể mang hợp đồng phân chia tài sản chung đi công chứng để có giá trị pháp lý cao hơn. Việc công chứng là tự nguyện chứ không bắt buộc theo quy định hiện hành.
Căn cứ vào Điều 16 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định như sau:
- Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
- Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập.
Theo đó, quan hệ tài sản của nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn sẽ được chia theo thỏa thuận của các bên. Nếu như không có thỏa thuận thì tiến hành chia tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự và các quy định liên quan khác.
Căn cứ theo khoản 2 Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về điều kiện kết hôn thì Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.
Do đó, các cặp đồng giới kết hôn sẽ không được áp dụng các quy định về chế độ tài sản chung của vợ chồng trong Luật Hôn nhân và Gia đình.
Theo đó, tại khoản 1 Điều 40 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định như sau:
- Trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng thì phần tài sản được chia, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác. Phần tài sản còn lại không chia vẫn là tài sản chung của vợ chồng.
- Thỏa thuận của vợ chồng quy định tại khoản 1 Điều này không làm thay đổi quyền, nghĩa vụ về tài sản được xác lập trước đó giữa vợ, chồng với người thứ ba.
Như vậy, sau khi ly hôn chia tài sản chung thì tiền lãi ngân hàng sẽ phải chia.
CÔNG TY LUẬT TNHH NGỌC PHÚ
Tổng đài tư vấn và CSKH: 1900 9343
Hotline: 0913 41 99 96
Email: legal@nplaw.vn